Nguồn gốc văn hóa Tiếng Trung

305
Nguồn gốc văn hóa Tiếng Trung
Trung bình 5 trên tổng số 1 bình chọn

Tiếng Trung là một ngôn ngữ khó nhưng chỉ cần học tiếng Trung và tiếng Anh là bạn đã có thể du lịch thế giới rồi,nhưng các bạn biết nguồn gốc của nó chưa?

Tại Trung Quốc, trước thời nhà Tần, chữ Hán được gọi là “văn” 文 hoặc “danh” 名. Từ nhà Tần cho đến trước khi tên gọi “Hán tự” 漢字 (chữ Hán) trở nên phổ biến chữ Hán thường chỉ được gọi là “văn” 文, “tự” 字 hoặc “văn tự” 文字. Theo sách “Thuyết văn giải tự” (說文解字) do Hứa Thận biên soạn vào thời Đông Hán thì giữa “văn” 文 và “tự” 字 vốn là có sự phân công ý nghĩa, chứ không phải là hoàn toàn đồng nghĩa. “Văn” 文 là chỉ chữ tượng hình và chỉ sự, “tự” 字 là chỉ chữ hình thanh và hội ý. Về sau người ta không còn phân biệt “văn” 文 và “tự” 字 nữa, chữ viết dù thuộc loại gì cũng đều có thể gọi là “văn” 文 hoặc “tự” 字.
 
Các tên gọi dùng để chỉ chữ Hán đã nêu ở trên đều có nghĩa là “chữ, chữ viết”, chúng không phải là tên gọi chuyên chỉ chữ Hán.
 
Tên gọi “Hán tự” 漢字 xuất hiện sớm nhất là trong Kim sử, một bộ sách sử được biên soạn vào thời nhà Nguyên. Tuy nhiên khi đó “Hán tự” 漢字 không phải là một tên gọi phổ biến của chữ Hán. Chỉ cho đến thời cận đại (tại Trung Quốc đại lục lịch sử Trung Quốc cận đại thường được tính là từ năm 1840 đến năm 1949) tên gọi “Hán tự” 漢字 mới dần dần được biết đến và sử dụng rộng rãi.
 
Tại Việt Nam, trước thời Pháp thuộc, người Việt thường chỉ gọi chữ Hán là “chữ” hoặc “văn tự”. Từ điển Việt-Bồ-La của A Lịch Sơn Đắc Lộ (thế kỷ XVII) đã giải nghĩa từ “chữ” của tiếng Việt bằng tiếng Bồ Đào Nha và La-tinh là chữ Trung Quốc
 
Từ “chữ” trong tiếng Việt là âm Hán Việt cổ của chữ “tự” 字, bắt nguồn từ âm đọc trong tiếng Hán thượng cổ của chữ này
Truyền thuyết cho rằng Hoàng Đế là người sáng tạo ra văn tự Trung Hoa từ 4-5 ngàn năm trước nhưng ngày nay không còn ai tin rằng Hoàng Đế là nhân vật có thực nữa. Cả thuyết Thương Hiệt cho chữ mà các học giả thời Chiến Quốc đưa ra cũng không thuyết phục vì không ai biết Thương Hiệt ở đời nào. Gần đây người ta đào được ở An Dương (Hà Nam) nhiều mu rùa, xương loài vật, và đồ đồng trên đó có khắc chữ, và các nhà khảo cổ phỏng đoán rằng chữ viết ở Trung Hoa ra đời muộn nhất là vào thời kỳ nhà Thương, khoảng 1800 năm trước Công nguyên

Cũng như Ai Cập và nhiều dân tộc văn minh thời thượng cổ, chữ viết Trung Hoa thời đó là những hình biểu ý, nghĩa là vẽ phác vật mình muốn chỉ. Chẳng hạn như:

  • Muốn chỉ Mặt Trời, Trung Hoa vẽ Chutuonghinh mattroi.jpg nguồn gốc văn hóa tiếng trung (Ai Cập cũng tương tự), sau thành chữ 日 (nhật);
  • Muốn chỉ Mặt Trăng, Trung Hoa vẽ Chutuonghinh mattrang1.jpg nguồn gốc văn hóa tiếng trung (Ai Cập vẽ Chutuonghinh mattrang2.jpg nguồn gốc văn hóa tiếng trung), sau thành chữ 月 (nguyệt);
  • Muốn chỉ dòng nước, Trung Hoa vẽ Chutuong hinhnuoc.jpg nguồn gốc văn hóa tiếng trung, sau thành chữ 川 (xuyên);
  • Muốn chỉ khu ruộng, Trung Hoa vẽ Chutuonghinhdien.jpg nguồn gốc văn hóa tiếng trung, sau thành chữ 田 (điền);
  • Muốn chỉ cây cối, Trung Hoa vẽ Chutuonghinh moc.jpg nguồn gốc văn hóa tiếng trung, sau thành chữ 木 (mộc);
  • Muốn chỉ cái miệng, Trung Hoa vẽ Chutuonghinh khau.jpg nguồn gốc văn hóa tiếng trung (Ai Cập cũng vẽ là
    D21 nguồn gốc văn hóa tiếng trung

    ) sau thành chữ 口 (khẩu).

Đó là vào thời kỳ đầu, đến giai đoạn tiếp theo thì chữ cũng tượng hình mà thêm tính cách biểu ý như

  • Chutuonghinh mattroi.jpg nguồn gốc văn hóa tiếng trung-nhật: cả tiếng Trung Hoa lẫn tiếng cổ Ai Cập đều có nghĩa là ngày;
  • Chutuonghinh mattrang1.jpg nguồn gốc văn hóa tiếng trung
  • Nguồn Gốc Văn hóa Tiếng Trung nguồn gốc văn hóa tiếng trung
    Nguồn Gốc Văn hóa Tiếng Trung
  • Lợi và bất lợi của tiếng Trung

Lợi

  • Khi nhớ mặt chữ của một từ thì người học rất khó quên được ý nghĩa của nó, chẳng hạn chữ an (安) gồm nữ (女 đàn bà) ở dưới miên (宀 mái nhà) nên có nghĩa là an (an ổn), hoặc chữ minh (明) gồm nhật (日 mặt trời) và nguyệt (月 Mặt Trăng) nên có nghĩa là sáng. Như vậy mỗi từ của Trung Hoa có tính chất sống động hơn từ của phương Tây và vì vậy đọc một bài thơ Trung Hoa viết bằng chữ Trung Hoa thì cảm thấy có ý nghĩa hơn, thú vị hơn khi đọc cũng bài thơ đó phiên âm ra chữ quốc ngữ. Cái thú còn tăng thêm gấp bội nếu ta thưởng thức được nét bút của người viết, và ai cũng nhận ra môn “thư họa” (vẽ chữ) của Trung Hoa là bước đầu của môn hoạ, người Trung Hoa nào viết chữ đẹp cũng được xem giống như một hoạ sĩ.
  • Lợi ích lớn nhất cho dân tộc Trung Hoa là nhờ lối chữ tượng hình mà họ nhanh chóng thống nhất được đất nước, dễ giữ được đế quốc của họ, vượt được hết nhiều dị biệt của các thổ ngữ, những hàng rào ngôn ngữ. Họ có rất nhiều thổ ngữ, nếu dùng một thứ chữ tượng thanh, như tự mẫu La Tinh chẳng hạn, thì người Bắc Kinh không sao hiểu được người Vân Nam, người Tứ Xuyên không sao hiểu được người Sơn Đông…, mà nước của họ đã bị chia thành nhiều tiểu quốc, dân tộc rồi, như châu Âu có người Ý, Pháp, Đức, Anh, Bồ Đào Nha, Tây Ban Nha
  • Cũng nhờ lối chữ đặc biệt này mà rất nhiều Hoa kiều ở khắp thế giới từ Đông Nam Á tới Âu Châu, Mỹ Châu, dù sinh sống ở quốc gia nào và sử dụng ngôn ngữ của dân tộc khác nhưng vẫn giữ được nền văn hóa cổ, vẫn giữ được phong tục, truyền thống và dùng bút đàm mà hiểu được nhau.[8]

Bất lợi

  • Thời gian học dài: Người học chữ Trung Quốc phải có nhiều (hai ba năm) mới nhớ được mặt chữ của ba bốn ngàn từ thường dùng; nếu dùng lối tượng thanh thì nhanh và đơn giản hơn.[9]
  • Chữ viết phức tạp, nhiều nét: có những chữ trên hai mươi lăm nét.
  • In sách báo tốn công vì rất rắc rối, phải sắp gần một vạn chữ vì không thể dùng ba bốn chục ký tự mẫu và dấu như các chữ lối tượng thanh.
  • Không đánh được tín hiệu: phải dùng khoảng 8.000 dấu hiệu (code), mỗi dấu hiệu thay cho một chữ.
Khuyến mãi Noel: Lý TIểu Long Lite nguồn gốc văn hóa tiếng trung

0 BÌNH LUẬN

BÌNH LUẬN