[Tự học tiếng Trung] Một số từ lóng cực hay trong tiếng Trung

3283
[Tự học tiếng Trung] Một số từ lóng cực hay trong tiếng Trung
Trung bình 5 trên tổng số 1 bình chọn

[Tự học tiếng Trung] Một số từ lóng cực hay trong tiếng Trung

1 – 加油 (Jiāyóu) – Thêm dầu, thêm xăng

Jiāyóu các bạn học tiếng Trung ai cũng biết nó có nghĩa là cố gắng lên kiểu “Cố lên Chiaki”. Đây là một cụm từ có ý nghĩa rất lớn trong việc khích lệ, cổ vũ người khác.

Nhưng khi chúng ta dịch từng từ thì nó thành là “thêm dầu”, “thêm xăng”. Cây xăng là 加油站 (Jiāyóu zhàn) mà.

Về nguồn gốc của cụm từ này thì có nhiều giả thuyết nhưng vẫn chưa được nhất quán.

2 – 马马虎虎 (Mǎmǎhǔhǔ) – Ngựa ngựa hổ hổ

Thời cổ đại có một họa sĩ rất nổi tiếng. Một lần ông ta đang vẽ đầu một con hổ. Bạn của ông ta đến nhờ ông ta vẽ ra một con ngựa. Thế là vì lười nên ngay ở phần sau của con hổ, ông ta vẽ mình của một con ngựa luôn.

Con trai cả của ông ta nhìn thấy giật mình, bèn hỏi rằng: “Đây là con gì thế ạ?”. Ông ấy nói đây là một con ngựa. Con trai thứ hai của ông ta cũng nhìn thấy và hỏi rằng: “Đây là con gì thế ạ?”. Ông ấy nói đó chính xác là một con hổ.

Một ngày nọ cậu con cả đi vào rừng nhìn thấy một con hổ. Cậu tưởng đó là một con ngựa nên lao đến muốn cưỡi nó. Và cậu đã bị con hổ ăn thịt mất. Cậu con thứ hai thì khi đi trên đường nhìn thấy một con ngựa tưởng là con hổ. Thế là bắn chết con ngựa nhà người ta. Từ đó người ta gọi ông hoạ sỹ là “Mã Hổ tiên sinh.”

Và giờ đây người ta rất thích dùng cụm từ “Mã Hổ” để miêu tả những người làm việc qua loa đại khái, khi làm việc thì không nghiêm túc, tập trung.

thanh ngu ma ma ho ho Tự học tiếng Trung

3 – 可口可乐 (Kěkǒukělè) – Vừa hợp khẩu vị vừa vui

Các nhãn hàng thậm chí tên người nổi tiếng nước ngoài khi vào thị trường Trung Quốc đều phải thay đổi tên nhãn hiệu của mình thành tiếng Trung, bởi vì người Trung Quốc không sử dụng các tự Latinh.

Nên khi công ty nước giải khát Coca-Cola xâm nhập vào thị trường tiềm năng Trung Quốc vào những năm 1920s, công ty đã phải cố gắng tìm ra một cụm từ nào đó gần gũi với phát âm của tên tiếng Anh: Coca-Cola.

Cuối cùng họ cũng đã tìm ra một cụm từ rất hay đó là 可口可乐 – Khả Khẩu Khả Lạc có nghĩa là vừa hợp khẩu vị lại vừa vui vẻ mà phát âm lại rất gần với Coca-Cola. Đây cũng là cụm từ phiên âm nhãn hiệu được cho là hiệu quả và thành công nhất.

4 – 二百五 (Èrbǎiwǔ) – 250

Khi bạn gọi ai đó là 250 tức là có ý bảo người đó là kẻ ngu, ngớ ngẩn chứ không có ý đếm số gì ở đây hết đâu ^^. Có bạn nào biết tại sao không?

5 – 戴绿帽子 (Dàilǜmào zi) – Đội mũ xanh lá

Trong tiếng Trung Quốc, cụm từ đội mũ xanh lá tức là người đó bị cắm sừng. Mình gặp cụm này lần đầu tiên trong lúc đang đọc cuốn “Yêu em từ cái nhìn đầu tiên”.

Về nguồn gốc của cụm từ “đội mũ xanh lá” rất hay ho này thì có một thuyết như sau:

Thời xưa, có một đôi vợ chồng lấy nhau. Người chồng là thương gia thường xuyên phải ra ngoài giao tế, còn người vợ thì thường xuyên ở nhà nhưng nàng lại có dung mạo xinh đẹp.

Vì chồng thường xuyên không có bên cạnh nên nàng cảm thấy rất rất cô đơn, rồi bỗng một ngày nàng quen với một người đàn ông bán vải trên phố. Thế là từ đó hai người thường tình tự ngoại tình với nhau mỗi khi chồng nàng đi vắng.

Nhưng đến một lần, người chồng trở về nhà khiến cô vợ ba tháng rồi vẫn chưa ra ngoài được, khiến người bán vải trên phố rất là nhớ nhung, sốt ruột. Rồi đến một buổi sáng nọ, người chồng cưỡi ngựa ra ngoài thành săn bắt, đi ngang qua chỗ anh bán vải, anh bán vải mừng thầm khấp khởi, tưởng rằng người chồng lai ra ngoài làm ăn rồi.

Thế là tối hôm đó không đợi được anh ta liền lẻn vào nhà nàng kia, vừa chuẩn bị hành sự thì người chồng về, cũng may là anh chàng bán vải kịp núp xuống và trốn dưới giường.

Sau sự việc đó, người vợ mới xin anh bán vải một ít mảnh vải màu xanh lá, làm một chiếc mũ đẹp cho chồng mình. Và còn hẹn với anh bán vải rằng: Khi nào mà nhìn thấy người chồng ra ngoài mà đầu đội một chiếc mũ màu xanh lá thì tức là người chồng phải ra ngoài lâu ngày làm ăn buôn bán.

Người vợ cầm chiếc mũ XANH nói với người chồng rằng: “Bên ngoài gió bụi rất nhiều, chàng đội chiếc mũ này để khỏi làm bẩn tóc. Màu sắc này về phong thuỷ rất hợp với chàng, trông chàng càng anh tuấn đẹp đẽ hơn. Sau này mỗi lần ra ngoài, thiếp đều làm cho chàng một cái màu xanh. Cứ coi như là thiếp luôn ở cạnh bên chàng, chàng không cần bận tâm lo lắng cho thiếp.”

Tưởng vợ thương mình, người chồng rất hăm hở đội chiếc mũ màu xanh đó. Mỗi lần người chồng đội chiếc mũ màu xanh lá ra ngoài là y rằng tối đó anh bán vải sẽ ngủ trên giường của anh ta.

Thế là từ đó cụm từ “đội mũ xanh lá” đã mang hàm nghĩa là bị cắm sừng.

6 – 吃豆腐 (Chī dòufu) – Ăn đậu phụ

Cụm “Ăn đậu phụ” có nghĩa là trêu ghẹo, nặng thì là quấy rối tình dục. Người ta cho rằng vẻ đẹp của người phụ nữ con gái cũng giống như một miếng đậu phụ: Da trắng, nhẵn mượt, vị êm dịu…

Vì thế người ta mới dùng cụm từ “Ăn đậu phụ” để chỉ việc người phụ nữ hay con gái bị một người đàn ông lợi dụng (sờ soạng, quấy rối).

7 – 给你点颜色看看 (Gěi nǐ diǎn yánsè kàn kàn) – Cho bạn chút màu xem thử

Cụm này dịch ra tiếng Việt Nam có nghĩa ra “Tôi sẽ cho bạn một bài học”.

Nghĩa của câu này là muốn tỏ ý trừng phạt, giáo huấn một ai đó hoặc là thể hiện sức mạnh thực lực của bản thân cho kẻ thù, đối phương biết.

Thông thường được dùng trong trường hợp người có mâu thuẫn với ai đó hoặc là khi có mối quan hệ cạnh tranh hoặc ganh đua thi đấu với ai đó. Dùng câu này hay nhất là với mục đích hù dọa đối phương.

Câu này cũng được dùng ở ngôi thứ 3, ví dụ: “给他点颜色看看” (Gěi tā diǎn yánsè kàn kàn) – Tao sẽ cho nó một bài học!

Khuyến mãi Noel: Lý TIểu Long Lite Tự học tiếng Trung
Content Protection by DMCA.com

0 BÌNH LUẬN

BÌNH LUẬN