Tập tục hôn nhân của các dân tộc thiểu số ở Việt Nam

0
183
Đánh giá bài viết

Bài tập dịch của thầy Hầu Hướng Ngọc về tục lệ hôn nhân của một số dân tộc thiểu số Việt Nam

1. Người Việt

Để kết hôn, việc so tuổi đôi trai gái và chọn ngày, giờ tốt cho các nghi lễ rất quan trọng. Thời trước, hôn nhân thường được sắp xếp giữa các gia đình có cùng địa vị. Ngày nay, thanh niên có quyền lựa chọn tự do hơn.

Một cuộc hôn nhân thường trải qua các bước chính: lễ dạm, lễ hỏi, lễ cưới, lễ lại mặt. Việc gả chồng, cưới vợ phải trình báo gia tiên. Tùy yêu cầu của nhà gái, lễ vật của nhà trai có thể nhiều hay ít, nhưng không thể thiếu trầu, cau, rượu, chè. Ở thành thị, người ta dùng tráp hoặc khay đựng đồ sinh lễ đưa tới nhà gái. Thiếp mời trở nên thông dụng từ những năm 1980. Khách tặng quà mừng đôi tân hôn, trước kia là hiện vật, ngày nay chủ yếu là tiền.

京族婚俗:京族人举办婚礼,比较男女双方年龄以及为各个结婚仪式择日选时非常重要。过去,连姻常是在有同样地位的家庭之间。现在,青年们则有自己自由选择的权利。

通常,一场婚礼要走以下程序:提亲、定亲、结婚、回门。嫁娶之事必须禀告祖先。根据女方家的要求,男方家带给女方家的礼物也是可多可少,但是无论如何不能缺少槟郎、蒌叶、茶叶。在城市,人们会把聘礼放在一个匣子或者小盘子里带到女方家。请柬是从上世纪八十年代开始通用。对于客人祝贺新人的方式过去是送东西,而现在则是送红包!

2. Người Bru – Vân Kiều

Cậu và anh em trai của cô dâu đóng vai trò quan trọng trong hôn nhân. Trước kia, việc con trai cô lấy con gái cậu được khuyến khích. Lễ vật của nhà trai, ngoài thanh kiếm và chiếc nồi đồng cho “lễ trao kiếm”, còn có bạc trắng, đồ vải, chuỗi mã não hay hạt cườm, thanh la…; nay có cả tiền, vàng. Cô dâu đặt chân lên hòn đá và thực hiện nghi thức rửa chân rồi mới bước vào nhà chồng, sau đó là nghi thức ăn cơm chung với chú rể và nghi thức bắc bếp. Việc cưới xin chỉ xong khi đã tổ chức lễ “khơi” sau một số năm. Lễ này thường có hiến sinh trâu. Từ đó, người phụ nữ mới là thành viên chính thức của dòng họ nhà chồng.

布鲁-云乔族婚俗:布鲁-云乔族婚礼中新娘的哥哥、弟弟和舅舅扮演着重要的角色。在过去,姑姑的儿子娶舅舅的女儿是得到大家的鼓励的事情,而对于男方要送女方的礼物,除了在“放定礼”上的宝剑和铜锅之外,还有白银、布料,以及一串玛瑙或者珍珠、铜锣等。现在则还包括钱、黄金。新娘脚踩在石头上进行洗脚仪式,之后才可以踏入新郎家门,然后是和新郎共进餐仪式,再是架炉灶仪式。婚礼之事只有在数年之后举行过活牛祭拜礼(lễ khơi)以后,这个妇女才能算是丈夫家族中的一员。

3. Người Ta – ôi

Trai gái trước kia khoảng 14 – 15 tuổi thì cắt cụt 6 răng cửa hàm trên rồi tìm hiểu nhau và lập gia đình. Có những tập tục tương tự ở người Bru – Vân Kiều và Cơ – tu: khuyến khích con trai cô và con gái cậu lấy nhau; cậu đại diện cho gia đình nhà gái; nếu người họ A đã lấy vợ họ B, con trai họ B không được lấy con gái họ A. Lễ hỏi cũng là dịp nhà gái thách cưới. Trong lễ cưới, nhà trai giao nộp của cải theo thỏa thuận, đó là khoản đền bù để “mua vợ”, gồm: nồi đồng, chiêng, ché, chuỗi mã não, vòng tay, rượu…, nay có thể có cả cattsette, tivi. Thường sau nhiều năm, phải tổ chức lễ tạ ơn thần linh phù hộ đôi vợ chồng chung sống yên ổn.

达渥族婚俗:达渥族的婚俗是在过去男女双方要在十四到十五岁的时候拔掉上腭的六颗牙,然后才开始互相了解并成立家庭。有一些习俗达渥族和布鲁-云乔族是相似的,比如:鼓励姑姑的儿子娶舅舅的女儿;舅舅为女方家出面;如果张三家的儿子娶了李四家的女儿,那李四家的儿子就不能再娶张三家的女儿了。提亲时也是女方家索要彩礼的一个好机会。结婚当天,男方家要交完已经商量好的给女方家的所有物质的东西——也就像是“买老婆”的补偿款项,包括:铜锅、铜锣、大瓷瓶、一串玛瑙、手镯、酒等等。而现在则可以是录音机或者是电视。一般在许多年之后,还要举行一个感谢神灵保佑这对夫妻生活安定的谢恩仪式。

4. Người Hoa

Khi kén vợ, tìm chồng cho con, người Hoa chú ý cả đến yếu tố kinh tế, sự tương xứng giữa 2 gia đình và sự “hợp tuổi” của đôi trai gái. Ở thành phố Hồ Chí Minh, người Hoa thường tổ chức lễ hỏi với lễ vật của nhà trai gồm lợn quay, vịt, gà, nhiều loại bánh, trái cây…Ngày cưới, cô dâu trùm khăn che xuống mặt, mặc trang phục màu đỏ, biểu tượng hạnh phúc và may mắn. Đó cũng là màu của hộp đựng đồ sinh lễ, đèn trang trí. Đôi tân hôn cùng nhau ăn tượng trưng 100 miếng trầu, với ước mong sống “bách niên giai lão”. Của hồi môn của cô dâu bao gồm tiền, vàng và nhiều vật dụng.

华族婚俗:华族人为儿女挑老婆、选老公时会考虑到很多因素,比如是经济条件、双方家庭是否当对、男女双方年龄是否合适等。在胡志明市,华族人男方家一般有举行提亲和定亲仪式,物品包括有烤猪、鸭、鸡,多种饼类、水果等等。结婚当天,新娘要用盖头盖脸,穿红色的衣服,图的就是幸福和吉利。红色当然也是放彩礼盒子以及装饰灯的颜色。一对新人还要象征性地吃一百口槟郎,象征着白头偕老。新娘的嫁妆包括有金钱、黄金以及其他用品。

5. Người Xinh – mun

Từ lễ cưới lần đầu, chàng trai đi ở rể, còn cô dâu đổi họ theo chồng và được búi tóc dựng trên đầu, dấu hiệu có chồng. Thời gian ở rể xưa tới 8 – 9 năm, nên đến lễ cưới lần 2, nhiều đôi đã có vài ba con đưa theo về cư trú nhà chồng. Khi chuyển sang nhà chồng, cô dâu chú rể cầm theo mỗi người một chiếc cần rượu, được coi là thanh gươm trừ tà ma, giữ vía cho họ.

Ngoài việc chu cấp cho 2 họ và dân bản ăn uống trong 2 lần cưới và phải nộp nhiều lễ vật rất tốn kém, nhà trai còn phải chịu khoản tiền “công nuôi con gái”, trước kia có thể tới hàng trăm đồng bạc trắng. Nếu xin nợ nhà gái, khoản nợ được ghi nhớ trên thanh tre, gọi là khăn thó.

欣门族婚俗:第一次婚礼后,新郎要到新娘家居住,新娘也要换姓随夫君,同时也要把头发盘起来,证实自己已是有夫之妇。过去,新郎在新娘家要居住到八九年,然后才是第二次婚礼,许多对夫妻都要带着已生的几个孩子搬回到男方家。回男方家之时,男女双方每人都要随身携带一个用于喝酒的长似剑的空心竹管,这也被看作是能除邪保安。

除了两次婚礼上给两姓以及当地人提供吃喝以外,男方家还要给女方家很多贵重的礼物,更要出一个叫做“养女之功”的款项,过去要给到几百文银子。如果要赊账,这笔欠款则需记在竹子上,欣门族把此称作是“Khăn thó”

6. Người Dao

Dựa vào sách xem tuổi Đạo giáo của thầy cúng, đôi trai gái có hợp tuổi mới lấy nhau được. Để thành hôn, phải trải qua rất nhiều nghi lễ và tốn kém của cải. Giá trị của cô gái thể hiện qua sính lễ mà nhà trai phải chịu, được thỏa thuận trong lễ hỏi và chép vào bản ghi nhớ là 2 bản giấy đỏ để mỗi bên giữ một nửa. Thường là bạc, thịt lợn, rượu, gạo, y phục và đồ trang sức cho cô dâu…Tập tục ở mỗi nhóm Dao có nét riêng. Phổ biến là nhà trai đến đón dâu và nhà gái đưa dâu về nhà chồng; riêng nhóm Dao Đỏ chỉ có đưa dâu. Ở nhóm Thanh Y, bố hoặc anh trai phải cõng cô dâu ra khỏi cửa chừng 10 bước rồi trao cho nhà trai.

瑶族婚俗:巫神要依据道教书籍看男女双方年龄,如果双方年龄上合适才能结婚,结婚时,也要举行许多仪式,花费大量财物。女子的价值也体现在了聘礼的多少上,而不管多少,男方家都要承受,聘礼可以在提亲时互相商量,最终要记在两张红纸上,然后双方各执一份。聘礼常包括:白银、猪肉、酒、大米、服装以及新娘打扮所需物品等等。在瑶族的每个分支习俗又不全相同,最普遍的就是男方到女方家接新娘,女方家人把新娘送到男方家。而只有红瑶是男方到女方家接新娘,女方家人则不送新娘到男方家。青衣瑶则是父亲或者长兄把新娘背出家门大概十步,然后把新娘交给男方家。

Content Protection by DMCA.com