Du lịch Trung Quốc: Tổng quan về Bắc Kinh

148
Đánh giá bài viết


Du lịch Bắc Kinh


Bắc Kinh (chữ Hán: 北京, Phiên âm: Běijīng) là thủ đô của Cộng hoà Nhân dân Trung Hoa, là một trong bốn thành phố trực thuộc trung ương của Trung Quốc và là thành phố lớn thứ nhì của nước này về dân số, sau Thượng Hải. Bắc Kinh được xem như trung tâm chính trị, văn hoá và giáo dục của Trung Quốc, trong khi Hồng Kông và Thượng Hải vượt trội trong lĩnh vực kinh tế.

Tên gọi

Bắc Kinh (北京) có nghĩa là “Kinh đô phía Bắc”, phù hợp với truyền thống chung của Đông Á khi kinh đô được dứt khoát đặt tên như chính nó. Các thành phố có kiểu tên tương tự là Nam Kinh (南京, có nghĩa là “Kinh đô phía Nam”), Tokyo (東京, “Đông Kinh” theo chữ Hán), Đông Kinh (東京, có nghĩa là “Kinh đô phía Đông”, ngày nay là Hà Nội); cũng như Kyoto (京都, “Kinh Đô”) và Kinh Thành (京城, có nghĩa là “kinh đô”, ngày nay là Seoul).
Ở Trung Quốc, thành phố này có nhiều lần được có nhiều tên. Giữa thời gian từ 1368 đến 1405, và sau đó lại một lần nữa từ 1928 [1] và 1949, thành phố này có tên là Bắc Bình (北平; Pinyin: Beiping; Wade-Giles: Pei-p’ing), có nghĩa “hòa bình phía Bắc” hay “bình định phía Bắc”. Trong cả hai trường hợp, tên được đổi – bằng cách bỏ từ “kinh” – để phản ánh hiện thực là kinh đô đất nước đã chuyển đến Nam Kinh, lần đầu tiên dưới thời Hongwu Hoàng đế thời nhà Minh, và lần thứ hai dưới thời chính phủ Quốc Dân Đảng của Trung Hoa Dân Quốc, lúc đó Bắc Kinh không phải là kinh đô của Trung Hoa.
Đảng Cộng sản Trung Quốc đã chuyển thủ đô về Bắc Kinh năm 1949 một lần nữa một phần để nhấn mạnh rằng Bắc Kinh đã trở lại vai trò thủ đô Trung Quốc của mình. Chính phủ của Trung Hoa Dân quốc ở Đài Loan chưa bao giờ công nhận chính thức việc đổi tên này và trong thập niên 1950 và thập niên 1960 phổ biến ở Đài Loan gọi Bắc Kinh là Bắc Bình để ám chỉ tính bất hợp pháp của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa. Ngày nay, phần lớn Đài Loan, kể cả chính phủ Đài Loan đều sử dụng tên gọi Bắc Kinh, dù một số bản đồ của Trung Quốc từ Đài Loan vẫn sử dụng tên gọi cũ cùng với biên giới chính trị cũ.
Yên Kinh (燕京; Bính âm: Yānjīng; Wade-Giles: Yen-ching) cũng là một tên phổ biến khác không chính thức của Bắc Kinh, liên hệ đến nước Yên đã tồn tại ở đây từ thời nhà Chu. Tên này hiện được một số tổ chức sử dụng làm tên thương hiệu như bia Yến Kinh, Đại học Yến Kinh, một trường đại học đã bị sáp nhập vào Đại học Bắc Kinh. Trong thời nhà Nguyên, Bắc Kinh được gọi là Khanbaliq.

hoctiengtrungquoc Du lịch Trung Quốc: Tổng quan về Bắc Kinh

Lịch sử

Các khu định cư ở gần khu vực Bắc Kinh ngày nay có đã được hình thành khoảng năm 3000 trước Công nguyên. Vị trí của các khu vực định cư này ở mạn phía Bắc của Bình nguyên Hoa Bắc, là một nơi giao điểm quan trọng về địa lý và chính trị của các cộng đồng cư dân người Hán các phía Nam và Tây và đối với các nhóm dân du mục ở phía Bắc và Đông Bắc. Nhà Chu (1045 ? – 256 trước Công nguyên) đã xây dựng một kinh đô ở đây. Vào thế kỷ thứ 10, những người Mông Cổ Khitan từ Đông Bắc đã chiếm phần phía Bắc của Trung Hoa và thành lập kinh đô phía Nam của họ tại nơi là Bắc Kinh ngày nay. Khi quân Mông Cổ thôn tín Trung Hoa vào thế kỷ 13 và thiết lập nên nhà Nguyên, Kublai Khan đã quyết định lập kinh đô tịa Bắc Kinh năm 1272 và lần đầu tiên, kinh đô mới được đặt tên là Khanbalik, đã trở thành một kinh đô hành chính và chính trị cho toàn Trung Hoa. Năm 1368, Chu Nguyên Chương đã thiết lập nên nhà Minh và chọn Nam Kinh làm kinh đô. Ông đã ngay lập tức tàn phá kinh đô của nhà Nguyên và đổi tên thành phố là Bắc Bình (phía Bắc bình yên). Sau cái chết của Chu Nguyên Chương năm 1398, một cuộc tranh giành ngôi giữa cháu nội Chu Nguyên Chương (là con trai của con trai cả Zhu đã mất) – người được truyền ngôi và con trai thứ hai của Chu Nguyên Chương – người đã giành được ngôi báu và lên ngôi hoàng đế và chuyển kinh đô nhà Minh đến Bắc Bình năm 1420 và đổi tên thành này thành Bắc Kinh. Thành phố đã phát triển với những bố cục cơ bản như ngày nay đã được thực hiện vào thời đó. Thời nhà Thanh (1644-1911) đã cho xây thêm nhiều đền đài, công trình.
Sau khi nhà Thanh bị lật đổ và Cộng hoà Trung Hoa được thành lập năm 1911, Bắc Kinh vẫn là trung tâm chính trị của Trung Quốc cho đến năm 1911. Quốc Dân Đảng do Tưởng Giới Thạch đứng đầu đã dời thủ đô đến Nam Kinh và đổi tên Bắc Kinh thành Bắc Bình. Trong Thế chiến tranh thứ hai, thành phố đã bị quân Nhật Bản chiếm đóng từ năm 1937 đến 1945 nhưng không bị phá hoại nhiều. Sau khi phe của Mao Trạch Đông lên nắm quyền năm 1949, thành phố được đổi tên thành Bắc Kinh và được chọn làm thủ đô của Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa mới thành lập.
Năm 2001, Ủy ban Olympic Quốc tế đã chọn Bắc Kinh làm nơi tổ chức Thế vận hội mùa Hè 2008.

Kinh tế

Năm 2005, GDP danh nghĩa của Bắc Kinh là 681,45 tỷ nhân dân tệ (tương đương khoảng 84 tỷ USD), tăng trưởng GDP hàng năm là 11,1%. GDP đầu người là 44.969 Nhân dân tệ (5545 USD), tăng 8,1% so với năm 2004, gấp đôi năm 2000. Các ngành sơ cấp, thứ cấp, đệ tam cấp của Bắc Kinh có trị giá trị lần lượt là 9,77 tỷ nhân dân tệ, 210,05 tỷ nhân dân tệ và 461,63 nhân dân tệ. Thu nhập khả dụng (thu nhập sau thuế) của nội ô đầu người là 17.653 nhân dân tệ (tương đương 2176 USD/năm), tăng thực tế 12,9% so với năm trước. Thu nhập khả dụng dân nông thôn là 7.860 nhân dân tệ, tăng thực tế 9,6%. Thu nhập thực tế của 20% dân thu nhập thấp tăng 16,7%, 11,4% cao hơn mức 20% của 20% dân có thu nhập cao. Hệ số Engel của cư dân đô thị Bắc Kinh đạt 31,8% năm 2005 và của nông thôn là 32,8%, giảm 4,5 điểm % và 3,9 điểm % cho mỗi nhóm so với năm 2000[2].
Các lĩnh vực bất động sản và ô tô tiếp tục bùng nổ trong những năm gần đây. Năm 2005, tổng số 28,032 triệu m² nhà đã được bán ra với giá 175,88 tỷ nhân dân tệ (20 tỷ USD). Số ô tô đã được đăng ký ở Bắc Kinh năm 2004 là 2.146.000 chiếc, trong đó có 1.540.000 chiếc là của tư nhân (tăng 18,7% so với năm trước)[3].
Dù Thượng Hải được xem là trung tâm kinh tế của Trung Quốc, điều này dựa trên cơ sở các doanh nghiệp lớn đóng ở đó, hơn là một trung tâm của các doanh nghiệp Trung Quốc.
Sự phát triển của Bắc Kinh tiếp tục diễn ra với nhịp độ cao và sự mở rộng rộng lớn của Bắc Kinh đã tạo ra một loạt vấn đề cho thành phố. Bắc Kinh được biết đến vì sương khói cũng như các chương trìnhtiết kiệm điện” thường xuyên do chính quyền đặt ra. Du khách cũng như cư dân Bắc Kinh thường xuyên than phiền chất lượng cấp nước và chi phí các dịch vụ cơ bản như điện và khí đốt. Các khu vực công nghiệp lớn ngoài Bắc Kinh đã được lệnh di dời khỏi khu vực Bắc Kinh để giảm khói mù bao phủ thành phố. Phần lớn các nhà máy, không thể nâng cấp công nghệ, đã rời khỏi Bắc Kinh đế Tây An.

北京城市性质、功能

北京是中华人民共和国的首都,是中央人民政府的直辖市,是全国的政治中心、文化中心、金融决策中心和国际交往中心,同时也 是中国北方工商业最发达的大都会。按中央对北京的要求,北京将建成经济繁荣、社会安定和各项公共服务设施、基础设施及生态环境达到世界一流水平的历史文化 名城和现代化国际城市。
北京市市花:月季和菊花。
北京市市树:侧柏和国槐。
自然环境

北京位于北纬39°56′,东经116°20′;西北毗临山西,内蒙古高原,南与华北大平原相接,东近渤海。市中心海拔 43.71米;总面积16808平方公里,市区面积735平方公里。西、北、东三面环山,山地约占全市面积的2/3;主要河流有永定河、潮白河、北运河 等。北京属暖温带半湿润气候区,四季分明,春秋短促,冬夏较长。年平均气温13℃,1月最冷,平均气温为-3.7℃,7月份最热,平均气温为25.2℃。 年平均降雨量506.7毫米,无霜期189天。

人口民族

北京市户籍人口1077万,每天还有300万以上的流动人口。中国的56个民族,都有人在北京居住。汉族人口最多,占96.5%。其它55个少数民族人口为33多万,其中回、满、蒙古族最多。
行政区划
北京市下辖11个区、7个县。
城区:东城区、西城区、崇文区、宣武区;
近郊区:朝阳区、海淀区、丰台区、石景山区、通州区;
远郊区:门头沟区、房山区;
远郊县:昌平县、顺义县、大兴县、平谷县、怀柔县、密云县、延庆县。

组织机构

北京市人民代表大会 北京市人民代表大会及其常务委员会是全市的国家权力机关,下设办公厅和5个委员会。代表大会每届任期5年。其代由区、县人民代表大会经过民主协商,无记名投票直接选举。
北京市人民政府 北京市人民政府是北京市人民代表大会的执行机关,受国务院领导,统辖全市行政工作。市政府下设办公厅,政策研究室和13个委员会(计划、经济、首都规划、 市政管理、城乡建设、商业、科学技术、教育、对外经济贸易、民族事务、计划生育、体育运动、体制改革委员会)、5个办公室(农林、侨务、外事、人防、台湾 事务)以及若干职能局。

北京经济

1994年全市国内生产总值1015亿元,全社会固定资产投资总额620亿元。北京在“中国城市综合实力”评选中排列第二。

工业

1994年全市工业总产值1620亿元。在全国统一划分的164个工业门类中,北京拥有149个,食品、建材、汽车、电子为北京的4大工业支柱。适合首都特点的电子、食品加工、轻纺、印刷、建材、汽车等工业得到优先发展。
农业

1994年农村国内生产总值286.9亿元(其中非农业产值占79.5%),农村工业增加值占全市工业增加值的比重为 40.2%;主要农作物有小麦、玉米、水稻,粮食总产量276.1万吨,播种面积单产每公顷6420公斤,人均经营百亩以上的农场541个。农业在平原已 基本实现机械化,各类副食基地可提供丰富的副食品。

旅游

北京现有对外开放的旅游景点266处,旅行社293家,星级旅游饭店189家,客房5.2万间;1994年接待境外旅游者203万人,全年旅游外汇收入20.1亿美元。

对外经济贸易

北京同136个国家和地区有经济贸易往来。1994年全市外贸出口总值达21.1亿美元,引进 技术项目300项,协议金额2.52亿美元;到1994年底,全市累计批准外商投资企业已超过1万家,协议金额260.5亿美元,协议吸收外资147.8 亿美元。北京引进外资的重点市城市基 础设施、高新技术产业、危旧房改造、老企业改造和第三产业等。1994年实际利用外商投资和国外贷款19.5亿美元。

财政·金融

北京市财政收入46.76亿元,财政收入主要来自企业、各项税收和其它收入3个方面;1994年财政支出96亿元。 全市现有市级金融机构19家,市人民银行对金融进行宏观调控。

商业·服务业
第三产业生产总值477亿元,占全市国内生产总值的47%。社会商品零售总额679.4亿元,其中居民消费品零售558.7亿元,商业、饮食业、服务业营业网点已达24.8万个,集市贸易市场1049个。销售额亿元以上的商场40家。

啊兰

Khuyến mãi Noel: Lý TIểu Long Lite Du lịch Trung Quốc: Tổng quan về Bắc Kinh

0 BÌNH LUẬN

BÌNH LUẬN