[Giáo trình nghe tiếng Trung] Slow chinese: #082 – 女作家三毛 (Nǚ zuòjiā sān máo) – Nữ tác giả Tam Mao

135
[Giáo trình nghe tiếng Trung] Slow chinese: #082 – 女作家三毛 (Nǚ zuòjiā sān máo) – Nữ tác giả Tam Mao
Trung bình 4.5 trên tổng số 2 bình chọn

Slow chinese: #82 – 女作家三毛 (Nǚ zuòjiā sān máo) – Nữ tác giả Tam Mao – Nguồn: http://www.slow-chinese.com/podcast/82-nv-zuo-jia-san-mao/
admin

Slow chinese: #82 – 女作家三毛

#82 – 女作家三毛

前不久来自埃及的梅说,希望慢速中文能介绍一下中国的女作家。当时我首先想到的就是台湾女作家三毛,她是台湾最受欢迎的作家之一,写了十多部散文和小说集,还写过剧本和歌词。三毛的作品在全世界华人社会中广泛流传,影响了一代人的精神生活。

三毛(1943-1991)1943年出生于重庆,1948年跟随父母到了台湾。三毛本来的名字叫陈懋(mào)平,1946年改成陈平,她给自己取的英文名字叫Echo。“三毛”是她的笔名。1964年三毛进入中国文化大学学习哲学,1967年前往西班牙留学。在那里她认识了后来的丈夫荷西。之后三毛还在德国和美国留学,并且去了很多其他国家旅行。

1971年,三毛遭受了两次情感上的打击:一次是三毛不顾家里人的反对,与一位台湾画家订婚,却在婚礼前发现对方其实已经结过婚了。另一次是三毛答应了一位德国教师的求婚之后,有一天他们一起去订制结婚的名片,结果当天晚上这位德国教师因为心脏病突然发作去世了。三毛非常伤心,曾经尝试自杀。在17年后,三毛回忆说:“那盒名片直到今天还没有去拿”。

在经历了精神上的打击之后,三毛在1972年再次去往西班牙,与6年前认识的荷西重逢。1974年,三毛在撒哈拉与荷西结婚,开始了在撒哈拉沙漠的生活。在那里她写了许多文章描写自己的异国婚姻,完成了《撒哈拉沙漠》、《稻草人手记》、《哭泣的骆驼》这一系列的散文和小说集。当时的中国大陆刚刚对外开放,许多关于国外的信息一下子涌了进来,三毛的文章成为了人们了解外部世界的窗口。人们忽然发现,原来还可以这样谈恋爱,还可以这样穿衣打扮,还可以这样创造生活。三毛独特的人生经历和流浪者的人格特质,给她的文字带来了强大的力量。三毛也成为了许多读者心中的人生导师。

1979年,三毛的西班牙丈夫荷西在潜水时意外身亡。三毛经历了第三次情感上的重度打击。与荷西在一起的时候,即使遇到困难,三毛也是坚强和乐观的。但是自从荷西去世以后,三毛的文字就变得灰暗起来,充满了悲伤。散文集《梦里花落知多少》记录了三毛在荷西离开后的生活,让无数读者看完之后禁不住流泪。

1991年,三毛在台湾一家医院里去世,年龄仅有48岁。虽然当时警察把三毛的死定为自杀,但后来很多人提出疑问,所以三毛真正的死因到现在还是个谜。

有一首歌每个中国人都会唱,叫《橄榄树》,是三毛作的词。每次听到这首歌,我就会想起长头发高个子喜欢流浪的三毛。现在,让我们一起来欣赏这首歌,在歌声中静静地怀念这位有着传奇人生的女作家。

《橄榄树》歌词:

不要问我从哪里来
我的故乡在远方
为什么流浪
流浪远方 流浪

为了天空飞翔的小鸟
为了山间清流的小溪
为了宽阔的草原
流浪远方 流浪

还有还有
为了梦中的橄榄树橄榄树

不要问我从哪里来
我的故乡在远方
为什么流浪
为什么流浪远方
为了我梦中的橄榄树

不要问我从哪里来
我的故乡在远方
为什么流浪
流浪远方 流浪

歌曲:《橄榄树》
作曲:李泰祥
作词:三毛
演唱:齐豫

#82 – Nǚ zuòjiā sān máo

Qián bùjiǔ láizì āijí de méi shuō, xīwàng màn sù zhōngwén néng jièshào yīxià zhōngguó de nǚ zuòjiā. Dāngshí wǒ shǒuxiān xiǎngdào de jiùshì táiwān nǚ zuòjiā sān máo, tā shì táiwān zuì shòu huānyíng de zuòjiā zhī yī, xiěle shí duō bù sǎnwén hé xiǎoshuō jí, hái xiěguò jùběn hé gēcí. Sān máo de zuòpǐn zài quán shìjiè huárén shèhuì zhōng guǎngfàn liúchuán, yǐngxiǎngle yīdài rén de jīngshén shēnghuó.

Sān máo (1943-1991)1943 nián chūshēng yú chóngqìng,1948 nián gēnsuí fùmǔ dàole táiwān. Sān máo běnlái de míngzì jiào chén mào (mào) píng,1946 nián gǎi chéng chén píng, tā jǐ zìjǐ qǔ de yīngwén míngzì jiào Echo.“Sān máo” shì tā de bǐmíng.1964 Nián sān máo jìnrù zhōngguó wénhuà dàxué xuéxí zhéxué,1967 nián qiánwǎng xībānyá liúxué. Zài nàlǐ tā rènshíle hòulái de zhàngfū héxī. Zhīhòu sānmáo hái zài déguó hé měiguó liúxué, bìngqiě qùle hěnduō qítā guójiā lǚxíng.

1971 Nián, sān máo zāoshòule liǎng cì qínggǎn shàng de dǎjī: Yīcì shì sān máo bùgù jiālǐ rén de fǎnduì, yǔ yī wèi táiwān huàjiā dìnghūn, què zài hūnlǐ qián fāxiàn duìfāng qíshí yǐjīng jiéguò hūn le. Lìng yīcì shì sān máo dāyìngle yī wèi déguó jiàoshī de qiúhūn zhīhòu, yǒuyītiān tāmen yīqǐ qù dìng zhì jiéhūn de míngpiàn, jiéguǒ dàngtiān wǎnshàng zhè wèi déguó jiàoshī yīn wéi xīnzàng bìng túrán fāzuò qùshìle. Sān máo fēicháng shāngxīn, céngjīng chángshì zìshā. Zài 17 nián hòu, sān máo huíyì shuō:“Nà hé míngpiàn zhídào jīntiān hái méiyǒu qù ná”.

Zài jīnglìle jīngshén shàng de dǎjí zhīhòu, sān máo zài 1972 nián zàicì qù wǎng xībānyá, yǔ 6 nián qián rènshí de héxī chóngféng.1974 Nián, sān máo zài sǎhālā yǔ hé xī jiéhūn, kāishǐle zài sǎhālā shāmò de shēnghuó. Zài nàlǐ tā xiěle xǔduō wénzhāng miáoxiě zìjǐ de yìguó hūnyīn, wánchéngle “sǎhālā shāmò”,“dàocǎorén shǒujì”,“kūqì de luòtuó” zhè yī xìliè de sǎnwén hé xiǎoshuō jí. Dāngshí de zhōngguó dàlù gānggāng duìwài kāifàng, xǔduō guānyú guówài de xìnxī yīxià zi yǒngle jìnlái, sān máo de wénzhāng chéngwéile rénmen liǎojiě wàibù shìjiè de chuāngkǒu. Rénmen hūrán fāxiàn, yuánlái hái kěyǐ zhèyàng tán liàn’ài, hái kěyǐ zhèyàng chuān yī dǎbàn, hái kěyǐ zhèyàng chuàngzào shēnghuó. Sān máo dútè de rénshēng jīnglì hé liúlàng zhě de réngé tèzhì, gěi tā de wénzì dài láile qiángdà de lìliàng. Sān máo yě chéngwéile xǔduō dúzhě xīnzhōng de rénshēng dǎoshī.

1979 Nián, sān máo de xībānyá zhàngfū héxī zài qiánshuǐ shí yìwài shēnwáng. Sān máo jīnglìle dì sān cì qínggǎn shàng de zhòngdù dǎjī. Yǔhé xī zài yīqǐ de shíhòu, jíshǐ yù dào kùnnán, sān máo yěshì jiānqiáng hé lèguān de. Dànshì zìcóng hé xī qùshì yǐhòu, sān máo de wénzì jiù biàn dé huī’àn qǐlái, chōngmǎnle bēishāng. Sǎnwén jí “mèng lǐ huā luò zhī duōshǎo” jìlùle sān máo zài hé xī líkāi hòu de shēnghuó, ràng wúshù dúzhě kàn wán zhīhòu jīnbuzhù liúlèi.

1991 Nián, sān máo zài táiwān yījiā yīyuàn lǐ qùshì, niánlíng jǐn yǒu 48 suì. Suīrán dāngshí jǐngchá bǎ sān máo de sǐ dìng wèi zìshā, dàn hòulái hěnduō rén tíchū yíwèn, suǒyǐ sān máo zhēnzhèng de sǐyīn dào xiànzài háishì gè mí.

Yǒu yī shǒu gē měi gè zhōngguó rén dūhuì chàng, jiào “gǎnlǎn shù”, shì sān máo zuò de cí. Měi cì tīng dào zhè shǒu gē, wǒ jiù huì xiǎngqǐ zhǎng tóufǎ gāo gèzi xǐhuān liúlàng de sān máo. Xiànzài, ràng wǒmen yī qǐlái xīnshǎng zhè shǒu gē, zài gēshēng zhōng jìng jìng de huáiniàn zhè wèi yǒuzhe chuánqí rénshēng de nǚ zuòjiā.

“Gǎnlǎn shù” gēcí:

Bùyào wèn wǒ cóng nǎlǐ lái
wǒ de gùxiāng zài yuǎnfāng
wèishéme liúlàng
liúlàng yuǎnfāng liúlàng

wèile tiānkōng fēixiáng de xiǎo niǎo
wèile shān jiān qīngliú de xiǎo xī
wèile kuānkuò de cǎoyuán
liúlàng yuǎnfāng liúlàng

hái yǒu hái yǒu
wèile mèng zhōng de gǎnlǎn shù gǎnlǎn shù

bùyào wèn wǒ cóng nǎlǐ lái
wǒ de gùxiāng zài yuǎnfāng
wèishéme liúlàng
wèishéme liúlàng yuǎnfāng
wèile wǒ mèng zhōng de gǎnlǎn shù

bùyào wèn wǒ cóng nǎlǐ lái
wǒ de gùxiāng zài yuǎnfāng
wèishéme liúlàng
liúlàng yuǎnfāng liúlàng

gēqǔ:“Gǎnlǎn shù”
zuòqǔ: Lǐ tàixiáng
zuòcí: Sān máo
yǎnchàng: Qíyù

 

#82: Nữ tác gia Tam Mao

Không lâu trước đây, Mai Thuyết đến từ Ai Cập hy vọng Slow Chinese có thể giới thiệu nữ tác gia ở Trung Quốc. Lúc đó người tôi nghĩ đến trước tiên là nữ tác gia Tam Mao người Đài Loan, bà là một trong những nữ tác gia được yêu thích nhất tại Đài Loan, viết hơn mười tập tản văn và tiểu thuyết, còn viết cả kịch bản và lời bài hát. Tác phẩm của Tam Mao lưu truyền rộng rãi trong xã hội người Trung Hoa trên khắp thế giới, tác động lên đời sống tinh thần của con người một thời đại.

Tam Mao (1943-1991) sinh năm 1943 tại Trùng Khánh, năm 1948 theo cha mẹ tới Đài Loan. Tên của Tam Mao vốn dĩ là Trần Mậu Bình, năm 1946 đổi thành Trần Bình, bà cũng tự chọn cho mình một tên tiếng Anh gọi là Echo. Tam Mao là bút danh của bà. Năm 1964 Tam Mao vào đại học Văn hóa Trung Quốc học triết học, năm 1967 bà tới Tây Ban Nha du học. Tại đây bà đã quen biết người chồng sau này của mình Jose. Sau đó Tam Mao còn du học ở Đức và Mỹ, và đi du lịch ở rất nhiều quốc gia khác.

Năm 1971, Tam Mao phải trải qua hai trở ngại trong chuyện tình cảm: một là Tam Mao không quan tâm đến sự phản đối của gia đình, đính hôn với một họa sĩ người Đài Loan, nhưng trước khi kết hôn lại phát hiện ra đối tượng của mình đã từng kết hôn rồi. Hai là sau khi Tam Mao nhận lời cầu hôn của một giáo sư người Đức, có một hôm họ cùng đi đặt làm thiệp cưới, kết quả đến tối hôm đó vị giáo sư người Đức đã từ trần vì căn bệnh tim đột nhiên tái phát. Tam Mao vô cùng đau khổ, đã từng thử tự sát. 17 năm sau, Tam Mao còn nhớ lại và nói: “Hộp thiệp cưới đó đến tận hôm nay vẫn còn chưa đến lấy”.

Sau khi trải qua những đau đớn về tinh thần, năm 1972 Tam Mao lại tới Tây Ban Nha, gặp lại Jose – người đã quen biết từ 6 năm về trước. Năm 1974, Tam Mao kết hôn với Jose tại Sahara, bắt đầu cuộc sống trên sa mạc Sahara. Ở đó bà đã viết rất nhiều tác phẩm văn học kể về cuôc hôn nhân khác quốc tịch của mình, hoàn thành một chuỗi tập tiểu thuyết và tản văn “Câu chuyện sa mạc Sahara”, “Bút ký của bù nhìn rơm”, “Lạc đà khóc”, Trung Quốc đại lục lúc đó vừa mới mở cửa, rất nhiều tin tức liên quan đến nước ngoài tràn vào, tác phẩm văn học của Tam Mao đã trở thành cánh cửa cho mọi người tìm hiểu về thế giới bên ngoài. Mọi người bỗng phát hiện, hóa ra còn có thể yêu như vậy, còn có thể ăn mặc như vậy, còn có thể tạo ra cuộc sống như vậy. Những trải nghiệm đặc biệt trong cuộc đời và đặc điểm nhân cách của một người lang bạt khắp nơi như Tam Mao đã đem đến sức sống mãnh liệt cho những áng văn chương của bà. Tam Mao cũng đã trở thành người soi bước đường đời trong trái tim rất nhiều độc giả.

Năm 1979, Jose, người chồng Tây Ban Nha của Tam Mao bất ngờ chết trong lúc đi lặn. Tam Mao trải qua cú sốc nặng nề thứ ba trong chuyện tình cảm. Khi chung sống cùng Jose, cho dù gặp phải khó khăn, Tam Mao cũng vẫn rất kiên cường và lạc quan. Nhưng từ sau khi Jose ra đi, những tác phẩm của Tam Mao trở nên tăm tối, tràn đầy bi thương. Tập tản văn “Hoa rơi trong mộng biết bao nhiêu” ghi chép lại cuộc sống của Tam Mao sau cái chết của Jose, khiến rất nhiều độc giả xem xong đều rơi lệ.

Năm 1991, Tam Mao mất trong một bệnh viện ở Đài Loan, khi mới ở tuổi 48. Tuy lúc đó cảnh sát đều xác định cái chết của Tam Mao là tự sát, nhưng sau đó rất nhiều người đặt ra nghi hoặc, nên nguyên nhân thực sự về cái chết của Tam Mao đến nay vẫn là một câu hỏi lớn.

Có một bài hát mà người Trung Quốc nào cũng biết hát, tên là: “Cây ô liu”, lời do Tam Mao viết. Mỗi lần nghe tới bài hát này, tôi đều nhớ tới Tam Mao – người đàn bà mái tóc dài, vóc người cao, thích lưu lạc đây đó. Bây giờ chúng ta cùng thưởng thức ca khúc này, trong tiếng hát lặng lẽ hoài niệm về nữ tác gia có cuộc đời huyền thoại này.

Lời bài hát “Cây ô liu”:

Đừng hỏi tôi từ đâu tới

Quê hương tôi ở nơi rất xa xôi

Vì sao lang thang

Lang thang phương trời xa…lang thang

Vì chú chim nhỏ bay lượn trên bầu trời

Vì dòng suối nhỏ trong veo giữa núi

Vì thảo nguyên mênh mông

Lang thang phương trời xa…lang thang

Vẫn còn vẫn còn

Còn vì cây ô liu trong giấc mộng

Đừng hỏi tôi từ đâu tới

Quê hương tôi ở nơi rất xa xôi

Vì sao lang thang

Vì sao lang thang phương trời xa

Vì cây ô liu trong giấc mộng của tôi

Đừng hỏi tôi từ đâu tới

Quê hương tôi ở nơi rất xa xôi

Vì sao lang thang

Lang thang phương trời xa…lang thang

Ca khúc: Cây ô liu

Nhạc: Lý Thái Tường

Lời: Tam Mao

Biểu diễn: Tề Dự


Nhóm biên tập viên

Dịch thuật
Translating
dịch tiếng Việt

Biên tập
Editing
up lên website

Chỉnh sửa
Reviewing
rà soát, chỉnh sửa

Khuyến mãi Noel: Lý TIểu Long Lite Slow chinese: #082 - 女作家三毛 (Nǚ zuòjiā sān máo) - Nữ tác giả Tam Mao

0 BÌNH LUẬN

BÌNH LUẬN