[Giáo trình nghe tiếng Trung] Slow chinese: #042 – 出去吃饭 (Chūqù chīfàn) – Ra ngoài dùng bữa

78
[Giáo trình nghe tiếng Trung] Slow chinese: #042 – 出去吃饭 (Chūqù chīfàn) – Ra ngoài dùng bữa
Trung bình 5 trên tổng số 1 bình chọn

Slow chinese: #42 – 出去吃饭 (Chūqù chīfàn) – Ra ngoài dùng bữa – Nguồn: http://www.slow-chinese.com/podcast/42-chu-qu-chi-fan/
admin

Slow chinese: #42 – 出去吃饭

#42 – 出去吃饭

读者老毕建议我写一篇关于如何点菜的文章。我以前写过在饭店吃饭的礼仪,但没有写过怎么选择饭店和如何点菜。希望这次对你有帮助。如何点菜,不仅对外国人来说比较难,对中国人来说也不是一件容易的事儿。

你肯定吃过中国菜,那你最喜欢吃什么菜呢?是北京的烤鸭,还是杭州的东坡肉?是四川的宫保鸡丁,还是重庆的麻辣烫?是兰州的拉面,还是云南的过桥米线?要吃正宗的中国菜,就一定要来中国。中国菜有八个大种类,叫做“八大菜系”,每个菜系都有自己的特点。比如:四川菜的特点是辣;广东菜的特点是材料丰富;江苏菜的特点是味道清淡。另外,还有一些小菜系,像东北菜、西部的清真菜等等,也很有名。好餐厅肯定只有一个菜系,它们的名字和餐厅设计都会体现出自己的特点。还有一种餐厅,它们以食物为主题,比如:面馆、饺子馆。这些地方都是小博物馆,里面有来自不同地方的同一种食物。它们有不同的名字和做法,但变来变去都是同一种食物。当然,中国也有像麦当劳、肯德基一样的快餐店。这个就没什么好说的了。要吃好的中国菜,就去人多的地方。哪里人多,哪里的菜就好吃。很多小餐馆都非常好,因此,不用花很多钱你就可以享受美味的中国菜。

好,如果人到齐了,那就开始点菜吧。在外面吃饭,点菜不是一件容易的事儿。五颜六色的菜单,让你根本不知道怎么开始。我建议,你可以看看别人点了什么,他们点了多少菜。最多人点的那个菜,一定是这个餐厅的特色菜。老毕说,他看不懂菜单。这是一个问题,因为我也常常看不懂。很多餐厅给自己的菜起名字,所以很多菜名都是陌生的。就说说我的经验吧。菜单里面肯定有分类。你要吃面,就找面类这一栏;你要吃盖饭,就找盖饭这一栏。仔细看菜名,菜名里面包含了菜的内容:肉片啊还是肉丝啊,白菜啊还是青菜啊;有些菜名告诉你它的做法,比如:红烧、清蒸、爆炒……如果还不清楚,那就问服务员吧;对了,如果害怕吃辣,也最好问一下。一桌好菜,要尽可能丰富:要有肉、有蔬菜,还有汤。味道要有浓的,也要有淡的;有咸的,也要有甜的。记住,不要点重复的食物。如果你们有3个人,点4菜1汤就够了;如果人很多,最好的办法就是:每个人点一个自己喜欢的菜,然后再加一个大家都喜欢的。这样就不浪费。点菜的时候,大家一起讨论,同时互相了解。正式的宴会上,首先有凉菜,然后是汤,接下来是正菜,最后有水果或甜点。

在我的家乡,还有一种点菜的方式,就是请客的人一个人点菜。在南方,人们喜欢吃海鲜。这些海鲜都在厨房的水池里,点菜的人来到这里,选择最好的海鲜。很重要的一点是,你应该非常了解你的朋友:他们喜欢吃什么,不喜欢吃什么。当你的朋友看到桌上有最喜欢的菜,他一定会非常高兴,你们的友谊就会加深。所以,点菜也是一门艺术。

#42 – Chūqù chīfàn

Dúzhě lǎo bì jiànyì wǒ xiě yī piān guānyú rúhé diǎn cài de wénzhāng. Wǒ yǐqián xiěguò zài fàndiàn chīfàn de lǐyí, dàn méiyǒu xiěguò zěnme xuǎnzé fàndiàn hé rúhé diǎn cài. Xīwàng zhè cì duì nǐ yǒu bāngzhù. Rúhé diǎn cài, bùjǐn duì wàiguó rén lái shuō bǐjiào nán, duì zhōngguó rén lái shuō yě bùshì yī jiàn róngyì de shì er.

Nǐ kěndìng chīguò zhōngguó cài, nà nǐ zuì xǐhuān chī shénme cài ne? Shì běijīng de kǎoyā, háishì hángzhōu de dōng pō ròu? Shì sìchuān de gōng bǎo jī dīng, háishì chóngqìng de málà tàng? Shì lánzhōu de lāmiàn, háishì yúnnán deguò qiáo mǐxiàn? Yào chī zhèngzōng de zhōngguó cài, jiù yīdìng yào lái zhōngguó. Zhōngguó cài yǒu bā gè dà zhǒnglèi, jiàozuò “bādà càixì”, měi gè càixì dōu yǒu zìjǐ de tèdiǎn. Bǐrú: Sìchuān cài de tèdiǎn shì là; guǎngdōng cài de tèdiǎn shì cáiliào fēngfù; jiāngsū cài de tèdiǎn shì wèidào qīngdàn. Lìngwài, hái yǒuyīxiē xiǎo càixì, xiàng dōngběi cài, xībù de qīngzhēn cài děng děng, yě hěn yǒumíng. Hǎo cāntīng kěndìng zhǐyǒuyīgè càixì, tāmen de míngzì hé cāntīng shèjì dūhuì tǐxiàn chū zìjǐ de tèdiǎn. Hái yǒu yī zhǒng cāntīng, tāmen yǐ shíwù wéi zhǔtí, bǐrú: Miànguǎn, jiǎozi guǎn. Zhèxiē dìfāng dōu shì xiǎo bówùguǎn, lǐmiàn yǒu láizì bùtóng dìfāng de tóngyī zhǒng shíwù. Tāmen yǒu bùtóng de míngzì hé zuòfǎ, dàn biàn lái biàn qù dōu shì tóngyī zhǒng shíwù. Dāngrán, zhōngguó yěyǒu xiàng màidāngláo, kěndéjī yīyàng de kuàicān diàn. Zhège jiù méishénme hǎoshuō dele. Yào chī hǎo de zhōngguó cài, jiù qù rén duō dì dìfāng. Nǎlǐ rén duō, nǎlǐ de cài jiù hào chī. Hěnduō xiǎo cānguǎn dōu fēicháng hǎo, yīncǐ, bùyòng huā hěnduō qián nǐ jiù kěyǐ xiǎngshòu měiwèi de zhōngguó cài.

Hǎo, rúguǒ rén dào qíle, nà jiù kāishǐ diǎn cài ba. Zài wàimiàn chīfàn, diǎn cài bùshì yī jiàn róngyì de shì er. Wǔyánliùsè de càidān, ràng nǐ gēnběn bù zhīdào zěnme kāishǐ. Wǒ jiànyì, nǐ kěyǐ kàn kàn biérén diǎnle shénme, tāmen diǎnle duōshǎo cài. Zuìduō rén diǎn dì nàgè cài, yīdìng shì zhège cāntīng de tèsè cài. Lǎo bì shuō, tā kàn bù dǒng càidān. Zhè shì yīgè wèntí, yīnwèi wǒ yě chángcháng kàn bù dǒng. Hěnduō cāntīng jǐ zìjǐ de cài qǐ míngzì, suǒyǐ hěnduō cài míng dū shì mòshēng de. Jiù shuō shuō wǒ de jīngyàn ba. Càidān lǐmiàn kěndìng yǒu fèn lèi. Nǐ yào chī miàn, jiù zhǎo miàn lèi zhè yī lán; nǐ yào chī gài fàn, jiù zhǎo gài fàn zhè yī lán. Zǐxì kàn cài míng, cài míng lǐmiàn bāohánle cài de nèiróng: Ròupiàn a háishì ròu sī a, báicài a háishì qīngcài a; yǒuxiē cài míng gàosù nǐ tā de zuòfǎ, bǐrú: Hóngshāo, qīngzhēng, bào chǎo……rúguǒ hái bù qīngchǔ, nà jiù wèn fúwùyuán ba; duìle, rúguǒ hàipà chī là, yě zuì hào wèn yīxià. Yī zhuō hǎo cài, yào jǐn kěnéng fēngfù: Yào yǒu ròu, yǒu shūcài, hái yǒu tāng. Wèidào yào yǒu nóng de, yě yào yǒu dàn de; yǒu xián de, yě yào yǒu tián de. Jì zhù, bùyào diǎn chóngfù de shíwù. Rúguǒ nǐmen yǒu 3 gèrén, diǎn 4 cài 1 tāng jiù gòule; rúguǒ rén hěnduō, zuì hǎo de bànfǎ jiùshì: Měi gèrén diǎn yīgè zìjǐ xǐhuān de cài, ránhòu zài jiā yīgè dàjiā dōu xǐhuān de. Zhèyàng jiù bù làngfèi. Diǎn cài de shíhòu, dàjiā yì qǐ tǎolùn, tóngshí hùxiāng liǎojiě. Zhèngshì de yànhuì shàng, shǒuxiān yǒu liángcài, ránhòu shì tāng, jiē xiàlái shìzhèng cài, zuìhòu yǒu shuǐguǒ huò tiándiǎn.

Zài wǒ de jiāxiāng, hái yǒu yī zhǒng diǎn cài de fāngshì, jiùshì qǐngkè de rén yīgè rén diǎn cài. Zài nánfāng, rénmen xǐhuān chī hǎixiān. Zhèxiē hǎixiān dōu zài chúfáng de shuǐchí lǐ, diǎn cài de rén lái dào zhèlǐ, xuǎnzé zuì hǎo dì hǎixiān. Hěn zhòngyào de yīdiǎn shì, nǐ yīnggāi fēicháng liǎojiě nǐ de péngyǒu: Tāmen xǐhuān chī shénme, bù xǐhuān chī shénme. Dāng nǐ de péngyǒu kàn dào zhuō shàng yǒu zuì xǐhuān de cài, tā yīdìng huì fēicháng gāoxìng, nǐmen de yǒuyì jiù huì jiāshēn. Suǒyǐ, diǎn cài yěshì yī mén yìshù.

 

#42: Ra ngoài dùng bữa

Độc giả lão Tất đề nghị tôi viết một bài văn liên quan đến việc chọn món ăn như thế nào. Lúc trước tôi đã viết một bài lễ nghi của việc ăn cơm ở quán, nhưng không có viết về cách chọn quán ăn và chọn món ăn thế nào. Hy vọng lần này có thể giúp bạn. Chọn món thế nào, không chỉ là việc khó đối với người nước ngoài mà cũng không phải là việc dễ dàng đối với người Trung Quốc.

Tôi tin chắc là bạn đã dùng món ăn Trung Quốc, vậy bạn thích ăn nhất là món nào? Là món vịt quay Bắc Kinh, hay là món thịt kho Đông Pha của Hàn Châu? Là món gà xào Cung Bảo, hay là món lẩu xiên của Trùng Khánh? Là mì kéo của Lan Châu, hay món mì Qua Cầu của Vân Nam? Muốn ăn món Trung Quốc chính thống thì nhất định phải đến Trung Quốc. Món ăn Trung Hoa có tám loại lớn, gọi là “Bát Đại Thái Hệ” (tám hệ thống lớn về món ăn), mỗi hệ thống món ăn đều có đặc điểm riêng. Ví dụ như: Đặc trưng của món Tứ Xuyên là vị cay; đặc điểm của món Quảng Đông là nhiều nguyên liệu; đặc biệt của món Giang Tô là mùi vị thanh đạm. Ngoài ra, còn một vài hệ thống món ăn nhỏ, như món ăn của vùng Đông Bắc, món ăn thanh đạm của vùng phía tây, cũng rất nổi tiếng. Quán tốt khẳng định chỉ có một hệ thống món ăn, tên tuổi và thiết kế của quan đều hội tụ thể hiện đặc trưng riêng của mình. Còn có một kiểu hàng quán, họ cùng tên món ăn làm chủ đề chính, ví dụ như: quán mì, quán sủi cảo. Những nơi này đều là quán nhỏ, bên trong là một loại món ăn đến từ nhiều vùng khác nhau. Chúng có tên gọi và cách làm khác nhau,, nhưng thay qua đổi lại đều cùng một món ăn. Dĩ nhiên, Trung Quốc cũng có quán ăn nhanh như McDonald’s, KFC. Cái này thì cũng không có gì đáng nói. Muốn ăn món Trung Hoa ngon, thì đến nơi đông khách. Chỗ nào đông khách thì món ăn ở đó ngon. Nhiều quán ăn nhỏ cũng tốt, vì thế không cần phải mất nhiều tiền bạn cũng có thể thưởng thức đươđc món ăn ngon của Trung Hoa.

Được, nếu mọi người đều đến đông đủ, thì bắt đầu gọi món. Dùng bữa ở ngoài, việc chọn món không hề đơn giản. Thực đơn đa dạng muôn màu, khiến bạn vẫn luôn không biết mở màn như thế nào. Tôi khiến nghị, bạn có thể nhìn xem người ta chọn ăn gì, người ta chọn bao nhiêu món. Món nào được người ta gọi nhiều, nhất định là món ăn đặc biệt của quán. Lão Tất nói, ông không biết xem thực đơn. Việc này cũng là vấn đề, vì tôi cũng thường xem không hiểu. Nhiều quán tự đặt tên cho món ăn của mình, cho nên nhiều món ăn có tên gọi khá lạ lẫm. Nói vài điều về kinh nghiệm của bạn. Trong thực đơn khẳng định có phân loại. Bạn muốn ăn mì, thì tìm cột thể loại mì; Bạn muốn ăn cơm đĩa, thì tìm mục cơm. Chi tiết xem tên món, bên trong tên món thì bao gồm thành phần chứa thức ăn: thịt xắt lát hay là chà bông, cải trắng hay là cải xanh nè; có vài tên món nói cho bạn biết về cách làm, như: thịt nướng, hấp chưng, xào rán …. Nếu như chưa rõ, thì hỏi phục vụ; Đúng rồi, nếu sợ ăn cay, cũng nên hỏi lại. Một bàn thức ăn ngon, phải khá phong phú: có thịt, có rau, và cả canh nữa. Mùi vị phải nồng nàn, cũn phải thanh đạm, có vị mặn, cũng thêm vị ngọt. Nhớ là, chớ chọn món ăn trùng lặp. Nếu bạn đi ba người, thì chọn 4 món kèm món canh là đủ rồi; Nếu người đông, cách tốt nhất sẽ là: Mỗi người chọn món mình thích, sau đó gọi thêm món mà món người đều thích. Như vậy sẽ không lãng phí. Khi chọn món, mọi người cùng bàn bạc, đồng thời tìm hiều lẫn nhau. Trong yến tiệc chính thích, trước tiên có món nguội, sau đó là canh. tiếp nữa là món ăn chính thích, sau cùng có trái cây hoặc món ngọt.

Ở quê tôi, còn có một cách thức chọn món ăn, đó là người khách mời một mình gọi mọn. Ở phương Năm, mọi người thích ăn hải sản. Đồ hải sản đều trong hồ nước trong bếp, người gọi nmón đến đây, chọn món hải sản ngon nhất. Điều quan trọng nhất là, bạn phải hiểu rõ người bạn của mình: Họ thích ăn món gì, không thích ăn món gì. Khi bạn của bạn nhìn htấy món yêu thích nhất của mình trên bàn, nhất định sẽ rất vui, tình bạn của các bạn sẽ càng thêm sâu đậm. Vì thế, gọi món ăn cũng là một nghệ thuật.

(bản dịch của Meteor)


Nhóm biên tập viên

Dịch thuật
Translating
dịch tiếng Việt

Biên tập
Editing
up lên website

Chỉnh sửa
Reviewing
rà soát, chỉnh sửa

Khuyến mãi Noel: Lý TIểu Long Lite Slow chinese: #042 - 出去吃饭 (Chūqù chīfàn) - Ra ngoài dùng bữa
Content Protection by DMCA.com

0 BÌNH LUẬN

BÌNH LUẬN