[Giáo trình nghe tiếng Trung] Slow chinese: #034 – 中国的人口 (Zhōngguó de rénkǒu) – Nhân khẩu ở Trung Quốc

71
[Giáo trình nghe tiếng Trung] Slow chinese: #034 – 中国的人口 (Zhōngguó de rénkǒu) – Nhân khẩu ở Trung Quốc
Trung bình 5 trên tổng số 1 bình chọn

Slow chinese: #34 – 中国的人口(Zhōngguó de rénkǒu) – Nhân khẩu ở Trung Quốc – Nguồn: http://www.slow-chinese.com/podcast/34-zhong-guo-de-ren-kou/
admin

Slow chinese: #34 – 中国的人口

#34 – 中国的人口

中国是世界上人口最多的国家,2008年底中国大陆人口13.28亿,占全世界人口的20%,也就是说全世界平均每5个人当中就有一个是黄皮肤、黑头发的中国人。为什么中国人有这么多?中国怎么解决这个问题?请让我慢慢说起。

古代的时候,中国人口并不多。清朝以前,中国人口都不超过一亿,有些朝代人口甚至只有一两千万,即使最强大的唐朝,人口也只有五千万。由于古代医学比较落后,生孩子有很大的危险,很多孩子一出生就死了;古代人的生活条件也不好,有些家庭很穷,就算生了孩子也无法把他们养大;还有,古代人喜欢男孩儿,认为男孩儿可以劳动,而女孩儿却没有用,所以女孩儿常常被抛弃。这种重男轻女的错误思想也是造成中国古代人少的一个原因。

农业对古代中国非常重要,而人口就是劳动力。“谁生的孩子越多,谁就越光荣”,这种思想一直保持到新中国成立。为了加快发展,政府鼓励人们多生孩子,而且现代社会的医学水平比较发达,人们的生活条件也提高了,生孩子从很困难变成很容易,最后竟然难以控制。50年里,中国人口从5亿增加到11亿,翻了一番。这个速度太快了,如果不控制,后果不堪设想。

于是70年代,中国政府制定法律,实行“计划生育”。“计划生育”就是有计划地生孩子,并且尽可能保证孩子的健康。具体地说,就是一个家庭只生一个孩子。如果多生了孩子,就要受到一些处罚。到现在为止,计划生育使中国人口的增长减少了至少4亿,人口的增长速度也越来越低。

但是,计划生育也带来了一些问题。其中最重要的一个,就是我们这一代孩子比较孤独,因为我们都没有兄弟姐妹。这样的孩子叫做“独生子女”。中国现在的年轻人基本上都是独生子女,他们的性格和父母那一代人不一样。他们更加独立,但是也更加自我。其次,中国人口的出生率降低了,这也就意味着,几年后中国的人口达到顶峰,然后不再增长,变得越来越少。还有一个问题是人口分布不均匀,也就是有些地方人多,有些地方人少。中国东部人口多,西部人口少。中国人口最多的一个省是河南省,人口将近一亿,平均每平方千米有600多人;而中国人口最少的一个省是西藏自治区,在那里,平均每平方千米可能都找不到一个人。

如果你认为这些问题还不算大的话,请继续听我说。现在中国老人多,年轻人少;男人多,女人少。老人多是因为年轻一代都是独生子女,占总人口的比例突然少了,于是老人就显得很多。在性别比例上,据说中国男女比例是118:100,也就是说,有18个男人一出生就注定了以后找不到老婆。

为了让人口发展更加自然和科学,政府也对计划生育进行修改。现在,在中国大部分地区,如果父母都是独生子女的家庭允许生第二个孩子。对于“人口老龄化”,也就是老人越来越多的问题,政府的目标就是改善社会福利,提高人们的生活质量。

清朝的时候,中国人的平均寿命是33岁,而现在,中国人的平均寿命已经达到73岁。对于13亿的人口来说,这的确是一个值得骄傲的成绩。

#34 – Zhōngguó de rénkǒu

Zhōngguó shì shìjiè shàng rénkǒu zuìduō de guójiā,2008 niándǐ zhōngguó dàlù rénkǒu 13.28 Yì, zhàn quán shìjiè rénkǒu de 20%, yě jiùshì shuō quán shìjiè píngjūn měi 5 gèrén dāngzhōng jiù yǒu yīgè shì huáng pífū, hēi tóufǎ de zhōngguó rén. Wèishéme zhōngguó rén yǒu zhème duō? Zhōngguó zěnme jiějué zhège wèntí? Qǐng ràng wǒ màn man shuō qǐ.

Gǔdài de shíhòu, zhōngguó rénkǒu bìng bù duō. Qīngcháo yǐqián, zhōngguó rénkǒu dōu bù chāoguò yī yì, yǒuxiē cháodài rénkǒu shènzhì zhǐyǒu yī liǎng qiān wàn, jíshǐ zuì qiáng dà de táng cháo, rénkǒu yě zhǐyǒu wǔqiān wàn. Yóuyú gǔdài yīxué bǐjiào luòhòu, shēng háizi yǒu hěn dà de wéixiǎn, hěnduō háizi yī chūshēng jiù sǐle; gǔdài rén de shēnghuó tiáojiàn yě bù hǎo, yǒuxiē jiātíng hěn qióng, jiùsuàn shēngle háizi yě wúfǎ bǎ tāmen yǎng dà; hái yǒu, gǔdài rén xǐhuān nánhái ér, rènwéi nánhái ér kěyǐ láodòng, ér nǚhái ér què méiyǒu yòng, suǒyǐ nǚhái ér chángcháng bèi pāoqì. Zhè zhǒng zhòngnán qīng nǚ de cuòwù sīxiǎng yěshì zàochéng zhōngguó gǔdài rén shǎo de yīgè yuányīn.

Nóngyè duì gǔdài zhōngguó fēicháng zhòngyào, ér rénkǒu jiùshì láodònglì.“Shuí shēng de háizi yuè duō, shuí jiù yuè guāngróng”, zhè zhǒng sīxiǎng yīzhí bǎochí dào xīn zhōngguó chénglì. Wèile jiākuài fāzhǎn, zhèngfǔ gǔlì rénmen duō shēng háizi, érqiě xiàndài shèhuì de yīxué shuǐpíng bǐjiào fādá, rénmen de shēnghuó tiáojiàn yě tígāole, shēng háizi cóng hěn kùnnán biàn chéng hěn róngyì, zuìhòu jìngrán nányǐ kòngzhì.50 Nián lǐ, zhōngguó rénkǒu cóng 5 yì zēngjiā dào 11 yì, fānle yī fān. Zhège sùdù tài kuàile, rúguǒ bù kòngzhì, hòuguǒ bùkānshèxiǎng.

Yúshì 70 niándài, zhōngguó zhèngfǔ zhìdìng fǎlǜ, shíxíng “jìhuà shēngyù”.“Jìhuà shēngyù” jiùshì yǒu jìhuà dì shēng háizi, bìngqiě jǐn kěnéng bǎozhèng háizi de jiànkāng. Jùtǐ dì shuō, jiùshì yīgè jiātíng zhǐ shēng yīgè háizi. Rúguǒ duō shēngle háizi, jiù yào shòudào yīxiē chǔfá. Dào xiànzài wéizhǐ, jìhuà shēngyù shǐ zhōngguó rénkǒu de zēngzhǎng jiǎnshǎole zhìshǎo 4 yì, rénkǒu de zēngzhǎng sùdù yě yuè lái yuè dī.

Dànshì, jìhuà shēngyù yě dài láile yīxiē wèntí. Qízhōng zuì zhòngyào de yīgè, jiùshì wǒmen zhè yīdài háizi bǐjiào gūdú, yīnwèi wǒmen dōu méiyǒu xiōngdì jiěmèi. Zhèyàng de háizi jiàozuò “dúshēngzǐ nǚ”. Zhōngguó xiànzài de niánqīng rén jīběn shàng dū shì dúshēngzǐ nǚ, tāmen dì xìnggé hé fùmǔ nà yīdài rén bù yīyàng. Tāmen gèngjiā dúlì, dànshì yě gèngjiā zìwǒ. Qícì, zhōngguó rénkǒu de chūshēnglǜ jiàngdīle, zhè yě jiù yìwèizhe, jǐ nián hòu zhōngguó de rénkǒu dádào dǐngfēng, ránhòu bù zài zēngzhǎng, biàn dé yuè lái yuè shǎo. Hái yǒu yīgè wèntí shì rénkǒu fēnbù bù jūnyún, yě jiùshì yǒuxiē dìfāng rén duō, yǒuxiē dìfāng rén shǎo. Zhōngguó dōngbù rénkǒu duō, xībù rénkǒu shǎo. Zhōngguó rénkǒu zuìduō de yīgè shěng shì hénán shěng, rénkǒu jiāngjìn yī yì, píngjūn měi píngfāng qiān mǐ yǒu 600 duō rén; ér zhōngguó rénkǒu zuìshǎo de yīgè shěng shì xīzàng zìzhìqū, zài nàlǐ, píngjūn měi píngfāng qiān mǐ kěnéng dōu zhǎo bù dào yīgè rén.

Rúguǒ nǐ rènwéi zhèxiē wèntí hái bù suàn dà dehuà, qǐng jìxù tīng wǒ shuō. Xiànzài zhōngguó lǎorén duō, niánqīng rén shǎo; nánrén duō, nǚrén shǎo. Lǎorén duō shì yīnwèi niánqīng yīdài dōu shì dúshēngzǐ nǚ, zhàn zǒng rénkǒu de bǐlì túrán shǎole, yúshì lǎorén jiù xiǎndé hěnduō. Zài xìngbié bǐlì shàng, jùshuō zhōngguó nánnǚ bǐlì shì 118:100, Yě jiùshì shuō, yǒu 18 gè nánrén yī chūshēng jiù zhùdìngle yǐhòu zhǎo bù dào lǎopó.

Wèile ràng rénkǒu fāzhǎn gèngjiā zìrán hé kēxué, zhèngfǔ yě duì jìhuà shēngyù jìnxíng xiūgǎi. Xiànzài, zài zhōngguó dà bùfèn dìqū, rúguǒ fùmǔ dōu shì dúshēngzǐ nǚ de jiātíng yǔnxǔ shēng dì èr gè háizi. Duìyú “rénkǒu lǎolíng huà”, yě jiùshì lǎorén yuè lái yuè duō de wèntí, zhèngfǔ de mùbiāo jiùshì gǎishàn shèhuì fúlì, tígāo rénmen de shēnghuó zhìliàng.

Qīngcháo de shíhòu, zhōngguó rén de píngjūn shòumìng shì 33 suì, ér xiànzài, zhōngguó rén de píngjūn shòumìng yǐjīng dádào 73 suì. Duìyú 13 yì de rénkǒu lái shuō, zhè díquè shì yīgè zhídé jiāo’ào de chéngjī.

 

#34: Nhân khẩu ở Trung Quốc

Trung Quốc là quốc gia có nhân khẩu nhiều nhất trên thế giới. Cuối năm nhân khẩu ở Trung Quốc đại lục là 1,382 tỷ người, chiếm 20% nhân khẩu của thế giới, cũng có thể nói bình quân toàn thế giới cứ mỗi năm người thì trong đó có một người Trung Quốc tóc đen, da vàng. Vì sao người Trung Quốc đông như vậy? Trung Quốc làm sao giải quyết vấn đề này? Hãy để cho tôi từ từ giải thích.

Thời xa xưa, nhân khẩu Trung Quốc không nhiều. Trước thời Thanh, người Trung Quốc cũng không vượt qua con số 100 triệu người, có mấy triều đại nhân khẩu thậm chí chỉ có một, hai mươi triệu, thậm chí triều Đường mạnh nhất, nhân khẩu cũng chỉ có năm mươi triệu. Vì y học thời xưa tương đối lạc hấy, sinh con rất là nguy hiểm, nhiều đứa trẻ chết ngay khi chào đời; Điều kiện sinh sống của người thời xưa không tết, có mấy gia đình rất nghèo khổ, sinh con ra nhưng không thể nuôi chúng lớn; Và còn, người thời xưa thích con trai, cho rằng con trai có thể lao động, còn con gái thì vô dụng, cho nên con gái thường bị vứt bỏ. Tư tưởng sai lầm “trọng nam – khinh nữ” cũng là nguyên nhân người ít ờ thời Trung Quốc cổ đại.

Nông nghiệp vô cùng quan trọng đối với Trung Quốc cổ đại, và nhân khẩu chính là lực lượng lao động. “Ai sinh đường nhiều con, thì người đó càng nhiều quang vinh”, tư tưởng này cứ duy trì đến thời thành lập Trung Quốc mới. Để phát triển tăng tốc, chính phủ khuyến khich mọi người sinh nhiều con, và trình độ y học của xã hội đương thời khá phát triển, điều kiện sống của con người được nâng cao, việc sinh con là vấn đề khó trờ thành rất đơn giản, rốt cuộc mặc nhiên khó thể khống chế. Trong vòng 50 năm, nhân khẩy Trung Quốc từ 500 triệu tăng đến 1,1 tỷ người, tăng lên gấp bội. Tốc độ này quá nhanh, nếu như không khống chế, hậu quả khó lường.

Vì thế thập niên 70. chính phủ Trung Quốc lập ra luật, thực hiện “kế hoạch hoá gia đình”. “Kế hoạch hoá gia đình” là sinh con có kế hoạch, và có thể tận tình chăm sóc sức khoẻ trẻ nhỏ. Nói cụ thể là, mỗi gia đình chỉ có thể sinh một con. Nếu sinh nhiều con, thì sẽ bị xử phạt. Đến ngày nay, kế hoạch hoá gia đình khiến cho sự tăng trưởng của nhân khẩu Trung Quốc giảm xuống 400 triệu, tốc độ sinh trưởng nhân khẩu càng ngày càng thấp.

Song, kế hoạch hoá gia đình cũng mang lại một số vấn đề. Điều quan trọng nhất là, con của họ ở thời này khá cô độc, vì chúng tôi không có anh chị em gì cả. Những đứa trẻ này gọi là “con một”. Thanh niên Trung Quốc thời nay cơ bản đều là con một, tính cách của chúng và thời đại của cha mẹ không giống giông. Chúng càng độc lập, nhưng cũng càng bản ngã. Lần lượt, tỉ lệ ra đời của nhân khẩu Trung Quốc giảm thấp, cái này có nghĩa là, mấy năm sau nhân khẩu Trung Quốc đạt đến đỉnh điểm, sau đó không tăng trưởng nữa, trờ nên càng ngày càng ít. Còn một vấn đề là nhân khẩu phân bố không đồng đều, nghĩa là có nơi người nhiều, có nơi người ít. Miền đông Trung Quốc nhiều nhân khẩu, miền tây ít nhân khẩu. Tỉnh có nhân khẩu Trung Quốc nhiều nhất là tỉnh Hà Nam, nhân khẩu gần đến 100 triệu, bình quân hơn 600 người/ km2. Và tỉnh có nhân khẩu ít nhất là khu tự trị Tây Tạng, ở đây, bình quân ngàn mét vuông cũng không thấy được bóng dáng con người.

Nếu bạn cho rằng vấn đề này không phải là lớn, thì hãy nghe tôi nói tiếp. Hiện nay, ở Trung Quốc người già thì nhiều, thanh niên ít; nam nhiều, nữ ít. Người già nhiều là vì thời trẻ đều là con một, chiếm tỉ lệ tổng số khá ít, vì thế người già hiển nhiên quá nhiều. Về tỉ lệ giới tính, căn cứ tỉ lệ nam nữ Trung Quốc là 118:100, nghĩa là có 18 con trai ra đời thì tuyệt nhiên không thể tìm được vợ.

Để nhân khẩu phát triển khoa học và tự nhiên, nhà nước cũng có tiến hành thay đổi kế hoạch hoá gia đình. Hiện nay, phần lớn khu vực Trung Quốc , nếu cha mẹ đều là gia đình con một thì được phép sinh con thứ hai. Đối với việc “dân số lão hoá”, cũng là vấn đề người già càng ngày càng nhiều, mục tiêu của chính phủ là cải thiện phúc lợi xã hội, nâng cao chất lượng đời sống của người dân.

Thời thành, tuổi thọ bình quân của người Trung Quốc là 33 tuổi, nhưng hiện nay, tuổi thọ bình quân của người Trung Quốc đạt đến tuổi 73. Đối với 1,3 nhân khẩu mà nói, đây là thành tích đáng tự hào.

(bản dịch của Meteor)


Nhóm biên tập viên

Dịch thuật
Translating
dịch tiếng Việt

Biên tập
Editing
up lên website

Chỉnh sửa
Reviewing
rà soát, chỉnh sửa

Khuyến mãi Noel: Lý TIểu Long Lite Slow chinese: #034 - 中国的人口 (Zhōngguó de rénkǒu) - Nhân khẩu ở Trung Quốc

0 BÌNH LUẬN

BÌNH LUẬN