[Giáo trình nghe tiếng Trung] Slow chinese: #022 – 南京!南京!(Nánjīng! Nánjīng!) – Nam Kinh! Nam Kinh!

103
[Giáo trình nghe tiếng Trung] Slow chinese: #022 – 南京!南京!(Nánjīng! Nánjīng!) – Nam Kinh! Nam Kinh!
Trung bình 5 trên tổng số 1 bình chọn

Slow chinese: #22 – 南京!南京!(Nánjīng! Nánjīng!) – Nam Kinh! Nam Kinh! – Nguồn: http://www.slow-chinese.com/podcast/22-nan-jing-nan-jing/
admin

Slow chinese: #22 – 南京!南京!

#22 – 南京!南京!

今天我给大家推荐一部中国电影,叫《南京!南京!》。电影的导演是陆川。这是一部根据真实历史改编的电影,是一部产生争议但同时又引起轰动的电影。

事件发生在上个世纪三十年代,地点是当时中国的首都南京。这是一场残酷的大灾难,是中国人记忆里难以抹去的恐怖回忆。日本侵华战争时期,日本军队在南京发动了一场惨绝人寰的大屠杀。

1937年,日本军队进攻南京,中国军队的主力已经逃离南京,只剩下一些士兵和南京城共存亡。他们和敌人展开激烈的战斗。然而,抵抗力量太弱,南京城被攻破。数十万人遭到杀害,无论是已经放下武器的军人,还是手无寸铁的百姓。日本军队想出了各种方法屠杀中国人。长江水被染成了红色,整个南京成为一座死城。

当时在南京有一些国际人士,其中以德国商人约翰拉贝为代表,他用自己纳粹的身份建立了一个安全区,保护学校里的学生和没有逃离南京的市民。还有一些人也尽自己的全力保护身边的人。拉贝的秘书唐先生就是其中之一。他原来看见日本人就点头哈腰,后来终于看清了敌人的面目,临死前挺直了腰杆,在日本人面前维护自己的尊严。电影的主角是日本军人角川,他是新兵,响应天皇的召唤参加军队。然而,他在战争中经历到的一切让他渐渐产生怀疑,开始反思日本人的行为。影片的结尾,角川做了一件正确的事,他救了两名中国人,然后在痛苦中自杀。

虽然已经拍了很多电影,但这个主题一直被认为是最难拍的主题之一。因为关于这个主题的电影一定会涉及到暴力、血腥的画面和内容。很多观众因为难以承受,没有看完就要离开,还有人就连进电影院的勇气都没有。然而中国人是重视历史的,所以关于南京大屠杀的电影每隔几年就有一部。这部《南京!南京!》就是最新的一部。年轻导演陆川使用了黑白的画面,写实的风格,在一部影片中同时讲述了多个角色在灾难中的故事。而我最欣赏的一点是,陆川对日本人的刻画非常公平和人性化。

以前的很多战争电影中,日本军人的形象简直就是魔鬼,他们没有人性,不会思考,只知道杀人,所以和他们讨论公道就没有任何意义;陆川的观点是,要把日本人当成正常的人,他们做的事情也是人做的事情,虽然很残忍,但是我们要客观地去分析原因。这样一部影片应该让日本观众也能接受,这样才能起到警示历史的作用。

# 22: Nánjīng! Nánjīng!

Jīntiān wǒ gěi dàjiā tuījiàn yī bù zhōngguó diànyǐng, jiào “nánjīng! Nánjīng!”. Diànyǐng de dǎoyǎn shì lùchuān. Zhè shì yī bù gēnjù zhēnshí lìshǐ gǎibiān de diànyǐng, shì yī bù chǎnshēng zhēngyì dàn tóngshí yòu yǐnqǐ hōngdòng de diànyǐng.

Shìjiàn fāshēng zài shàng gè shìjì sānshí niándài, dìdiǎn shì dāngshí zhōngguó de shǒudū nánjīng. Zhè shì yī chǎng cánkù de dà zāinàn, shì zhōngguó rén jìyì lǐ nányǐ mǒ qù de kǒngbù huíyì. Rìběn qīn huá zhànzhēng shíqí, rìběn jūnduì zài nánjīng fādòngle yī chǎng cǎnjuérénhuán de dà túshā.

1937 Nián, rìběn jūnduì jìngōng nánjīng, zhōngguó jūnduì de zhǔlì yǐjīng táolí nánjīng, zhǐ shèng xià yīxiē shìbīng hé nánjīng chéng gòng cúnwáng. Tāmen hé dírén zhǎnkāi jīliè de zhàndòu. Rán’ér, dǐkàng lìliàng tài ruò, nánjīng chéng bèi gōngpò. Shù shí wàn rén zāo dào shāhài, wúlùn shì yǐjīng fàngxià wǔqì de jūnrén, háishì shǒuwúcùntiě de bǎixìng. Rìběn jūnduì xiǎng chūle gè zhǒng fāngfǎ túshā zhōngguó rén. Chángjiāng shuǐ bèi rǎn chéngle hóngsè, zhěnggè nánjīng chéngwéi yīzuò sǐ chéng.

Dāngshí zài nánjīng yǒuyīxiē guójì rénshì, qízhōng yǐ déguó shāngrén yuēhàn lā bèi wèi dàibiǎo, tā yòng zìjǐ nàcuì de shēnfèn jiànlìle yīgè ānquán qū, bǎohù xuéxiào lǐ de xuéshēng hé méiyǒu táolí nánjīng de shìmín. Hái yǒu yīxiē rén yě jǐn zi jǐ de quánlì bǎohù shēnbiān de rén. Lā bèi de mìshū táng xiānshēng jiùshì qízhōng zhī yī. Tā yuánlái kànjiàn rìběn rén jiù diǎntóuhāyāo, hòulái zhōngyú kàn qīngle dírén de miànmù, lín sǐ qián tǐng zhíle yāo gǎn, zài rìběn rén miànqián wéihù zìjǐ de zūnyán. Diànyǐng de zhǔjiǎo shì rìběn jūnrén jiǎochuān, tā shì xīnbīng, xiǎngyìng tiānhuáng de zhàohuàn cānjiā jūnduì. Rán’ér, tā zài zhànzhēng zhōng jīnglì dào de yīqiè ràng tā jiànjiàn chǎnshēng huáiyí, kāishǐ fǎnsī rìběn rén de xíngwéi. Yǐngpiàn de jiéwěi, jiǎochuān zuòle yī jiàn zhèngquè de shì, tā jiùle liǎng míng zhōngguó rén, ránhòu zài tòngkǔ zhōng zìshā.

Suīrán yǐjīng pāile hěnduō diànyǐng, dàn zhège zhǔtí yīzhí bèi rènwéi shì zuì nán pāi de zhǔtí zhī yī. Yīnwèi guānyú zhège zhǔtí de diànyǐng yīdìng huì shèjí dào bàolì, xuèxīng de huàmiàn hé nèiróng. Hěnduō guānzhòng yīn wéi nányǐ chéngshòu, méiyǒu kàn wán jiù yào líkāi, hái yǒurén jiù lián jìn diànyǐngyuàn de yǒngqì dōu méiyǒu. Rán’ér zhōngguó rén shì zhòngshì lìshǐ de, suǒyǐ guānyú nánjīng dà túshā de diànyǐng měi gé jǐ nián jiù yǒu yī bù. Zhè bù “nánjīng! Nánjīng!” Jiùshì zuìxīn de yī bù. Niánqīng dǎoyǎn lùchuān shǐyòngle hēibái de huàmiàn, xiěshí de fēnggé, zài yī bù yǐngpiàn zhōng tóngshí jiǎngshùle duō gè juésè zài zāinàn zhōng de gùshì. Ér wǒ zuì xīnshǎng de yīdiǎn shì, lùchuān duì rìběn rén de kèhuà fēicháng gōngpíng hé rénxìng huà.

Yǐqián de hěnduō zhànzhēng diànyǐng zhōng, rìběn jūnrén de xíngxiàng jiǎnzhí jiùshì móguǐ, tāmen méiyǒu rénxìng, bù huì sīkǎo, zhǐ zhīdào shārén, suǒyǐ hé tāmen tǎolùn gōngdào jiù méiyǒu rènhé yìyì; lùchuān de guāndiǎn shì, yào bǎ rìběn rén dàngchéng zhèngcháng de rén, tāmen zuò de shìqíng yěshì rén zuò de shìqíng, suīrán hěn cánrěn, dànshì wǒmen yào kèguān de qù fēnxī yuányīn. Zhèyàng yī bù yǐngpiàn yīnggāi ràng rìběn guānzhòng yě néng jiēshòu, zhèyàng cáinéng qǐ dào jǐngshì lìshǐ de zuòyòng.

 

#22: Nam Kinh! Nam Kinh!

Hôm nay tôi giới thiệu cho mọi người một bộ phim Trung Quốc có tên “Nam Kinh! Nam Kinh!”. Đạo diễn của phim này là Lục Xuyên. Đây là bộ phim cải biên dựa trên lịch sử, là bộ phim nhiều tranh luận và gây chấn động mạnh.

Câu chuyện xảy ra vào thập niên 30 của thế kỷ trước, địa điểm diễn ra là thủ đô Nam Kinh của Trung Quốc lúc bấy giờ. Đây là một tai họa tàn khốc, khủng bố ký ức không thể xoá nhoà trong tâm trí của người Trung Quốc. Thời kỳ chiến tranh Nhật Bản xâm chiếm Trung Hoa, quân đội Nhật tàn sát bi thảm nhất trên đời phát động ở Nam Kinh.

Năm 1937, Nhật Bản xâm chiếm Nam Kinh, chủ lực của quân đội Trung Quốc đã trốn khỏi Nam Kinh, chỉ còn sót lại một vài binh lính cùng tồn vong với thành Nam Kinh. Họ và kẻ địch triển khai chiến đấu kịch liệt. Song, lực lượng chống lại quá yếu, thành Nam Kinh đã bị công phá. Vô số người bị giết hại, bất kể là quân nhân đã buông vũ khí xuống, và còn người dân tay không tấc sắt. Quân đội Nhật Bản nghĩ mọi cách để sát hại người Trung Quốc. Nước sông Trường Giang nhuộm thành màu đỏ, cả Nam Kinh trở thành một toà tử thành.

Bấy giờ, ở Nam Kinh có một vài nhân sĩ quốc tế, trong đó có John Rabe – đại diện thương nhân nước Đức, ông dùng thân phận Đảng quốc xã thành lập một khu an toàn, bảo vệ học sinh trong trường học và dân thành phố chưa rời khỏi Nam Kinh. Và còn một số người cũng dùng hết sức mình để bảo vệ người bên cạnh. Đường tiên sinh – bí thư của John Rabe cũng là một trong số đó. Ông vốn cúi đầu khom lưng trước người Nhật Bản , nhưng rốt cuộc cũng nhìn thấy diện mạo của kẻ địch, trước lúc lâm chung đã đứng lên, trước mặt người Nhật Bản tôn nghiêm mà bảo vệ mình. Vai chính trong bộ phim là người quân nhân Nhật Bản Kadokawa, anh là tân binh, chịu ảnh hưởng triệu tập của Thiên Hoàng mà tham gia quân đội. Song, anh ấy đã trải qua mọi thứ trong chiến tranh khiến anh dần dần sản sinh sự nghi ngờ, bắt đầu hành động chống lại tư tưởng người Nhật Bản. Kết thúc bộ phim, Kadokawa làm công việc xác đáng, anh đã cứu hai người Trung Quốc, sau đó đau khổ mà tự sát.

Tuy đã quay nhiều bộ phim, nhưng đây là một trong những chủ đề được cho là khó quay nhất. Vì chủ đề của bộ phim này có hình ảnh và nội dung gây bạo lực và đẫm máu. Rất nhiều công chúng khó thể chấp nhận mà chưa xem xong đã rời bỏ, còn có người cả dũng khí vào xem phim cũng không có. Song người Trung Quốc xem trọng lịch sử, cho nên việc tàn sát ở Nam Kinh cứ cách mỗi năm thì có một bộ. Bộ phim “Nam Kinh! Nam Kinh!” là một bộ phim mới nhất. Đạo diễn trẻ tuổi Lục Xuyên sử dụng hình ảnh trắng đen, phong cách viết thực, câu chuyện trong bộ phim cũng kể về nhiều tai nạn của vai diển. Và điều tôi thích nhất là, cách khắc hoạ người Nhật Bản của Lục Xuyên rất công bằng và nhân tính hoá.

Trong rất nhiều phim về chiến tranh lúc trước, hình tượng quân nhân Nhật Bản chỉ là kẻ quỷ ma, họ không có tính người, không biết suy xét, chỉ biết giết người, cho nên không có ý nghĩa về tính công bằng trong tranh cãi. Quan điểm của Lục Xuyên là, xem người Nhật Bản thành người bình thường, việc họ làm cũng là việc của người thường, tuy rất tàn nhẫn, nhưng tôi phải phân tích theo cách khách quan. Một bộ phim thế này nên để công chúng Nhật Bản cũng chấp nhận, như vậy mới có tác dụng cảnh báo lịch sử.

(bản dịch của Meteor)


Nhóm biên tập viên

Dịch thuật
Translating
dịch tiếng Việt

Biên tập
Editing
up lên website

Chỉnh sửa
Reviewing
rà soát, chỉnh sửa

Khuyến mãi Noel: Lý TIểu Long Lite Slow chinese: #022 - 南京!南京!(Nánjīng! Nánjīng!) - Nam Kinh! Nam Kinh!

0 BÌNH LUẬN

BÌNH LUẬN